TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09-9-2024 “Tranh chấp giữa nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thạch Kim Hạnh
Ông Tăng Tùng Chân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ý Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp giữa nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Mai Thị N, sinh ngày 01/10/1980
Địa chỉ: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Ngô Thanh X, sinh năm 1980
Địa chỉ: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/7/2024, nguyên đơn bà Mai Thị N trình bày: Vào năm 2002, do quen biết trước và qua thời gian tìm hiểu nên bà và ông Ngô Thanh X có tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau, được cha mẹ hai bên đồng ý cho phép tổ chức lễ cưới, nhưng không đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới bà N và ông X về sống bên chồng tại khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc không trọn vẹn, giữa hai vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông X thường nhậu nhẹt say sỉn, còn có tính ghen tuông vô cớ, thường kiếm chuyện chửi bới bà N thậm tệ, xúc phạm danh dự nhân phẩm bà, bà N vì thương con nên cố gắng chịu đựng mong ngày ông X thay đổi, nhưng không có kết quả, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Từ đó mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên bà N về nhà cha mẹ ruột ở, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, từ lúc ly thân cả hai bên không bên nào tạo cơ hội hàn gắn. Đến nay, nhận thấy cả hai ly thân đã lâu không thể hàn gắn được, đã không còn yêu thương và dành tình cảm cho đối phương nữa, hạnh phúc không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên không thể tiếp tục chung sống với nhau. Về con chung có 02 đứa con tên Ngô Duy K, sinh năm 2003 nay con đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết và Ngô Mai Q, sinh ngày 07/11/2009 bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Bị đơn ông Ngô Thanh X có đơn xin xét xử vắng mặt, theo đơn ông X trình bày: ông thống nhất ly hôn với bà Mai Thị N; về con chung có 02 người con tên Ngô Duy K, sinh năm 2003 nay con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn Ngô Mai Q, sinh ngày 07/11/2009 ông đồng ý giao cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con; ông và bà N không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của cháu Ngô Mai Q tại bản tự khai ngày 06/8/2024: Nếu cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được sống chung với mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ kiện tranh chấp giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 7 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Ngô Thanh X cư trú tại thị trấn T, huyện T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện: bà Mai Thị N và ông Ngô Thanh X chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002 nhưng ông, bà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, hai người sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2022 đến nay, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ giữa bà N và ông X không phải là quan hệ hôn nhân hợp pháp; ông, bà có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định nhưng lại không đăng ký là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, do đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận bà Mai Thị N và ông Ngô Thanh X là vợ chồng.
[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống bà N và ông X có 02 người con chung là Ngô Duy K, sinh năm 2003, đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét và Ngô Mai Q, sinh ngày 07/11/2009, sau khi bà N và ông X ly thân thì cháu Ngô Mai Q sống chung với bà N cho đến nay. Xét thấy việc bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con là phù hợp với nguyện vọng của cháu Ngô Mai Q nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà N tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác nhận không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Bà Mai Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 56, Điều 57 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không công nhận bà Mai Thị N và ông Ngô Thanh X là vợ chồng.
- Về con chung: Cháu Ngô Duy K, sinh năm 2003 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Giao cháu Ngô Mai Q giao cho bà Mai Thị N tiếp tục nuôi (phù hợp với nguyện vọng của cháu Ngô Mai Q), ông Ngô Thanh X không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Ngô Thanh X không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được chung sống với bà Mai Thị N. Vì lợi ích của con, đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng sau khi ly hôn.
- Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác nhận không có và không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về án phí: bà Mai Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp trước 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003650 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Duyên |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp giữa nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Mai Thị N yêu cầu ly hôn với ông Ngô Thanh X
