|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-9-2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Công Chi
- 2. Bà Huỳnh Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXX-ST ngày 14/8/2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 53/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số K đường N, tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Ngô Văn Q, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số K đường N, tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Q xây dựng gia đình với nhau vào năm 1990, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ), hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Quá trình sống chung thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông Q không tôn trọng bà. Đầu năm 2023, bà đã làm đơn ly hôn gửi Tòa án yêu cầu giải quyết, sau đó ông Q hứa thay đổi, bà nghĩ cho ông Q một cơ hội nên đã rút đơn về. Tuy nhiên, sau khi rút đơn về, ông Q không thay đổi mà tiếp tục sống vô tâm, vô trách nhiệm với gia đình. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông Q.
Về quan hệ con chung: Bà xác định giữa bà và ông Q có 01 con chung tên là Phạm Thanh L1, sinh năm 1995. Con chung đã thành niên nên không đề cập yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Bà xác định tự thoả thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn ông Ngô Văn Q đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày gửi Toà án.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao khai sinh của con chung; CCCD, xác nhận thông tin cư trú của nguyên đơn, biên bản xác minh tại địa phương của Tòa án.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70,71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Đặng Thị L được ly hôn ông Ngô Văn Q. Về con chung: đã thành niên nên không đề cập đến. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, bị đơn là ông Ngô Văn Q có địa chỉ nơi cư trú tại quận L. Do vậy, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
[3] Bà Đặng Thị L và ông Ngô Văn Q xây dựng gia đình với nhau vào 1990, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75 năm 1990), hôn nhân tự nguyện. Đây là hôn nhân có đủ các điều kiện do Luật Hôn nhân và Gia đình quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[4] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bà Đặng Thị L xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng nên tha thiết xin ly hôn. Ông Ngô Văn Q vắng mặt tại phiên tòa và không có nguyện vọng ý kiến trình bày gì gửi Toà án xem xét.
[5] Xét yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị L thì thấy: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình sống chung thì giữa vợ chồng bà Đặng Thị L và ông Ngô Văn Q xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hợp. Theo kết quả xác minh tại địa phương của Toà án thể hiện giữa vợ chồng bà Đặng Thị L và ông Ngô Văn Q có xảy ra mâu thuẫn, thường cải vã nhau. Năm 2022, bà Đặng Thị L đã từng khởi kiện xin ly hôn ông Ngô Văn Q, sau đó tự nguyện rút đơn về để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn; tuy nhiên từ đó đến nay vợ chồng vẫn không thể khắc phục được mâu thuẫn. Ông Ngô Văn Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi, thể hiện ý chí không mong muốn hàn gắn mâu thuẫn và níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Đặng Thị L và ông Ngô Văn Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin được ly hôn của bà Đặng Thị L là chính đáng, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Đặng Thị L được ly hôn ông Ngô Văn Q.
[6] Về con chung: Bà Đặng Thị L xác định giữa bà và ông Ngô Văn Q có 01 con chung tên là Phạm Thanh L1, sinh năm 1995. Con chung đã thành niên và không thuộc trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về tài sản chung: Bà Đặng Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Về nợ chung: Bà Đặng Thị L xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[9] Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng bà Đặng Thị L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn" của bà Đặng Thị L đối với ông Ngô Văn Q.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đặng Thị L ly hôn ông Ngô Văn Q.
2. Về con chung: Không giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
4. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Đặng Thị L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000745 ngày 18/6/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Đặng Thị L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Anh Tuấn |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L ly hôn ông Q
