|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-4-2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đắc Hân
Ông Bùi Đức Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Th, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn Phúc, xã Lưu Kiếm, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Th, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn Phúc, xã Lưu Kiếm, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 11 năm 2023 cùng các lời khai gửi Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, bà Th (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Bà Th và Ông Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 10 tháng 4 năm 1992. Sau khi cưới vợ chồng sinh sống tại thôn Phúc, xã Lưu Kiếm, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 1994 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cách sống dẫn tới vợ chồng thường xảy ra va chạm, xô xát. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân từ năm 1997 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Th.
Về con chung: Bà Th và ông Th có hai con chung tên là Nguyễn Hồng Thắng sinh ngày 09/11/1991 và Thỳ sinh ngày 31/12/1993. Hiện hai con đã thành niên, khỏe mạnh và có khả năng lao động nuôi bản thân nên khi ly hôn bà không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung: Bà Th không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.
Trong biên bản lấy lời khai đề ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, ông Th (bị đơn) trình bày:
Ông Th thừa nhận toàn bộ lời trình bày của bà Th là đúng. Nay bà Th đề nghị ly hôn, ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn khả năng đoàn tụ, đề nghị căn cứ pháp luật giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho ông. Về con chung ông có quan điểm như bà Th đã trình bày. Về tài sản chung ông không có đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết nội dung vụ án thì đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Cho ly hôn giữa bà Th và ông Th. Bà Th và ông Th có hai con chung tên là Nguyễn Hồng Thắng sinh ngày 09/11/1991 và Thỳ sinh ngày 31/12/1993, hiện nay 02 con chung đã đủ 18 tuổi và khỏe mạnh, có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung vợ chồng do Tòa án không thụ lý giải quyết khi ly hôn nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về các tài liệu, chứng cứ và tình tiết của vụ án:
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Về quan hệ hôn nhân, con chung và lý do đề nghị Tòa án giải quyết các quan hệ đó phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà đương sự giao nộp, phù hợp với tài liệu do Tòa án thu thập được nên thuộc trường hợp không phải chứng minh; Quan hệ tài sản chung vợ chồng không giải quyết trong vụ án này nên không đặt vấn đề phải chứng minh.
Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Bà Th, ông Th vắng mặt tại phiên tòa và có đề nghị giải quyết vắng mặt; Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Th, ông Th.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông Th được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 10 tháng 4 năm 1992 của Ủy ban nhân dân xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 1994 thì phát sinh mâu thuẫn và trầm trọng nhất vào năm 1997, nguyên nhân mâu thuẫn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cách sống từ đó dẫn tới thường xuyên xảy ra va chạm, xô xát, mâu thuẫn trở nên căng thẳng, trầm trọng dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ năm 1997 đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà Th xin ly hôn với ông Th. Ông Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn khả năng đoàn tụ, đề nghị căn cứ pháp luật giải quyết. Căn cứ vào thực tế của quan hệ hôn nhân và quy định của pháp luật, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th với ông Th.
[3] Về con chung: Bà Th và Ông Th có hai con chung tên là Nguyễn Hồng Thắng sinh ngày 09/11/1991 và Thỳ sinh ngày 31/12/1993. Hiện hai con đã thành niên, khỏe mạnh và có khả năng lao động nuôi bản thân, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Bà Th và ông Th không có yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Th và ông Th.
2. Về con chung: Bà Th và ông Th có hai con chung tên là Nguyễn Hồng Thắng sinh ngày 09/11/1991 và Thỳ sinh ngày 31/12/1993. Hiện hai con đã thành niên, khỏe mạnh và có khả năng lao động nuôi bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Bà Th và Ông Th không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Th phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Th đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tại Biên lai số 0009742 ngày 03 tháng 01 năm 2024. Bà Th đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Th, Ông Th không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trung Hiếu |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Bùi Hữu Tuyến | Ngô Minh Tâm | Lê Trung Hiếu |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu - Nguyễn Văn Thuyết
