|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày 20-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sở
Bà Trần Thị Hằng Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thanh L, sinh năm 1978 tại Bến Tre. Nơi Đăng ký HKTT: Ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú hiện nay: Số A T, phường C, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh B (chết) và bà Trần Thị T (sống); vợ: Võ Thị Ngọc D, có 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/7/2023 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Anh Lê Thành B1, sinh năm 1984 (con ruột)
- Anh Lê Thanh P, sinh năm 1989 (con ruột)
Cùng địa chỉ: Số H đường L, phường A, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của Lê Thanh P: Lê Thành B1, vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Võ Thị Ngọc D, sinh năm 1981, có mặt.
Địa chỉ cư trú: Số A đường T, thành phố T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 19/5/2023, Lê Thanh L điều khiển xe mô tô biển số 62R1-0103 lưu thông trên Quốc lộ A, theo hướng từ Tiền Giang đi Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến Km 1947 + 200m (cầu T) Quốc lộ A, thuộc phường B, thành phố T, tỉnh Long An xảy ra va chạm với xe đạp điện do Nguyễn Thị H điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước, gây ra vụ tai nạn giao thông. Hậu quả, Nguyễn Thị H tử vong lúc 14 giờ 20 phút cùng ngày tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L.
Tại Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là tại Km 1947+ 200m (cầu T), Quốc lộ A, phường B, thành phố T, tỉnh Long An, mặt cầu được trải nhựa, thông thoáng, bằng phẳng, áp dụng lưu thông hai chiều; vị trí xảy ra vụ tại nạn thuộc chiều lưu thông từ Tiền Giang - Thành phố Hồ Chí Minh. Mặt cầu được chia làm ba làn xe chạy; làn đường trong cùng bên trái dành cho ô tô các loại rộng 3,5 mét (làn 1); làn đường ở giữa dành cho xe ô tô, xe mô tô rộng 3,5 mét (làn 2) và giới hạn với làn 1 bởi vạch kẻ đứt nét; làn đường bên phải trong cùng là làn dành cho xe mô tô, xe gắn máy, xe thô sơ rộng 1,8 mét (làn 3) giới hạn với làn 2 bởi vạch kẻ liền nét; Chọn mép bên phải đường Q (hướng từ tỉnh Tiền Giang - Thành phố Hồ Chí Minh) làm lề đường chuẩn; Chọn đầu mối nối nhịp giữa bên phải cầu làm điểm mốc; Vết cày không liên tục dài 5,5m, đầu vết cày cách đường chuẩn là 0,5m và cách điểm móc là 2,8m. Đuôi vết cày của xe đạp điện trùng với gác chân bàn đạp xe đạp điện; Xe đạp điện trong trạng thái ngã sang trái đầu hướng tỉnh Tiền Giang, đuôi quay về hướng ngược lại. T1 trục bánh trước cách đường chuẩn là 0,9m và tâm trục bánh sau cách đường chuẩn là 01m; Vết cày không liên tục dài 04m, đầu vết cày cách đường chuẩn là 0,5m và cách tâm trục bánh sau xe đạp điện là 2,9m. Đuôi vết cày cách đường chuẩn là 01m; Xe mô tô biển số: 62R1-0103 trong trạng thái dựng chống nghiêng đầu xe hướng về Thành phố Hồ Chí Minh đuôi xe hướng về chiều ngược lại. T1 trục bánh sau cách đường chuẩn là 0,7m và cách đuôi vết cày là 0,1m. T1 trục bánh trước cách đường chuẩn là 0,3m.
Dấu vết trên phương tiện thể hiện:
Xe mô tô biển số 62R1-0103: Xe cũ hư hỏng, biển số xe bị đứt rời bỏ vào cốp xe, ốp nhựa bảo vệ phía trước đầu xe bị bung rời dùng băng keo cố định lại. Phần yên sau được hàn cố định bằng khung kim loại kích thước (60cmx30cm). Trên khung kim loại được hàn 04 thanh sắt làm kệ chở hàng.
- - T2 thứ nhất: Từ trên xuống dài 90cm, tính từ yên xe ra mỗi bên 30cm.
- - T2 thứ hai: Dài 90 cm và ra mỗi bên 30 cm cách thanh (1) là 17cm.
- - T2 thứ ba: Dài 01 mét, ra mỗi bên 36cm và cách thanh (2) là 18,5cm. Thuộc dạng ống tròn đường kính 04cm, trên đầu mỗi bên có gắn đinh tán dài 09cm.
- - T2 thứ tư: Dài 90 cm ra mỗi bên 30cm và cách thanh (3) là 12,5 cm. Tại vị trí gốc sau bên trái phát hiện dấu vết màu nâu đỏ bao lấy đầu thanh sắt.
Trên phần kệ phát hiện một giỏ nhựa màu xanh bên trong có một giỏ nhựa màu vàng chứa túi nilon và bao bọc trái cây.
Xe đạp điện: Vành sau bên trái yên xe trước có dấu vết ma sát mài mòn dài 4,5cm. Khung nâng yên xe sau bên trái phát hiện dấu vết ma sát mài mòn dài 1,5cm. Gác chân sau bên trái phát hiện dấu vết ma sát kích thước (3,5cm x 01 cm).
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 110 ngày 19/6/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh L kết luận Nguyễn Thị H tử vong do chấn thương sọ não nặng làm nứt vỡ bung xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm thái dương trái.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 xe mô tô biển số: 62R1-0103 và 01 xe đạp điện, (tất cả tài sản trên, Cơ quan điều tra đã trả lại đại diện chủ sở hữu hợp pháp).
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn bị cáo Lê Thanh L đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 140.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữa nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Thanh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả đối với gia đình bị hại, được đại diện gia đình bị hại làm đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự như có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, thực hiện hành vi với lỗi vô ý, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Lê Thanh L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Đã xử lý xong.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Lê Thanh L có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 19/5/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 62R1-0103 lưu thông trên đường Q, hướng từ Tiền Giang đi Thành phố Hồ Chí Minh. Do không đảm bảo an toàn khi vượt xe nên kệ chở hàng kim loại yên sau xe va chạm với bên trái xe đạp điện do Nguyễn Thị H điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước làm tai nạn xảy ra, hậu quả làm cho Nguyễn Thị H tử vong.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8, điểm a khoản 5 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ, làm chết một người đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo L về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về trật tự, an toàn, giao thông đường bộ. Bị cáo có giấy phép lái xe và biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ nhưng không chấp hành nghiêm, khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đã vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ, vượt xe không đảm bảo các điều kiện quy định để xảy ra tai nạn, làm chết một người, đã xâm phạm tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau tai nạn đã tích cực bồi thường toàn bộ phần trách nhiệm dân sự theo yêu cầu của gia đình bị hại để khắc phục hậu quả nhằm giảm một phần đau thương mất mát đối với gia đình bị hại. Trong quá trình điều tra được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị không xử lý trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đã nêu trên, có nhân thân tốt, có nơi cứ trú rõ ràng, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Tại nơi cư trú bị cáo chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Vì vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo, có thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì khác nên không đề cập.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 xe môtô biển số 62R1-0103 và 01 xe đạp điện, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố T đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 41 Bộ luật Hình sự nên không đề cập.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1. Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Long An nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Lê Thanh L chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Hằng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Sở – Trần Thị Hằng Nga |
Nguyễn Thị Diễm Hằng |
Bản án số 69/2023/HS-ST ngày 20/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 69/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
