Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 9 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Châu.

Ông Nguyễn Phước .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 114/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/6/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 504/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Xuân P, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số A, đường L, Khóm D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 20/9/2024).

- Bị đơn: Ông Trịnh Minh T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số D, đường C, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2024, nguyên đơn bà Thạch Xuân P trình bày:

Bà Thạch Xuân P và ông Trịnh Minh T tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 178/2014 ngày 29/12/2014. Sau thời gian chung sống, đến năm 2023 thì ông bà phát sinh mâu thuẫn, do ông T thường xuyên ăn nhậu, không quan tâm và chăm sóc vợ con. Ông T và bà không còn chung sống từ đầu năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian chung sống có 02 con chung tên Trịnh Thế V (giới tính: nam, sinh ngày 16/9/2012) và Trịnh Liên H (giới tính: nữ, sinh ngày 14/02/2019), ông bà không có tài sản chung và nợ chung.

Nay bà Thạch Xuân P yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Xuân P yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Trịnh Minh T.
  • - Về con chung: Bà Thạch Xuân P yêu cầu sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Trịnh Thế V (giới tính: nam, sinh ngày 16/9/2012) và Trịnh Liên H (giới tính: nữ, sinh ngày 14/02/2019), không yêu cầu ông Trung cấp D nuôi con.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thạch Xuân P trình bày trong thời gian chung sống không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn ông Trịnh Minh T đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

- Các tình tiết, sự kiện không cần chứng minh: Bị đơn không phản đối các tình tiết, sự kiện mà nguyên đơn trình bày. Căn cứ quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đây là các tình tiết, sự kiện được các đương sự thừa nhận không cần phải chứng minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà P yêu cầu ly hôn với ông T, quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Thạch Xuân P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trịnh Minh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Xuân P và ông Trịnh Minh T tự nguyện kết hôn vào năm 2014 và được Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 178/2014 ngày 29/12/2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, tình trạng hôn nhân của ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, mặt khác, thời gian vợ chồng ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, sau ly thân mạnh người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, không làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà P là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông T.

[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Theo lời trình bày của bà P trong thời gian chung sống, ông T và bà P có hai người con chung tên Trịnh Thế V sinh ngày 16/9/2012 và Trịnh Liên H sinh ngày 14/02/2019, từ nhỏ đến nay các con chung ở cùng bà P. Sau khi ly hôn, bà P có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và cháu H đến khi đủ 18 tuổi.

[3.1] Nhận thấy, cháu V và cháu H do bà P trực tiếp nuôi dưỡng, theo biên bản ghi nhận ý kiến ngày 26/7/2024 cháu V có nguyện vọng được sống cùng mẹ, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, các con đang sống cùng bà P đã ổn định về tinh thần, vật chất và học hành, nên việc bà P đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và cháu H là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Bà Thạch Xuân P xác định không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Bà Thạch Xuân P xác định không có nợ chung với ông Trịnh Minh T nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thạch Xuân P người yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng.

Ông Trịnh Minh T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Bà Thạch Xuân P được ly hôn với ông Trịnh Minh T.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

    Giao Trịnh Thế V (giới tính: nam, sinh ngày 16/9/2012) và Trịnh Liên H (giới tính: nữ, sinh ngày 14/02/2019) cho bà Thạch Xuân P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

    Bà Thạch Xuân P không được cản trở ông Trịnh Minh T trong việc thăm nom con chung theo quy định pháp luật.

    Bà Thạch Xuân P không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thạch Xuân P xác định không có tài sản chung và nợ chung với ông Trịnh Minh T nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Thạch Xuân P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001820 ngày 06/6/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Bà P đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

    Ông Trịnh Minh T không phải chịu án phí.

  5. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi Cục THADS thành phố Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger