|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Đức Hiển
2. Bà Phạm Thị Láng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 18/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 16/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 20/8/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 07/2024/TBTA ngày 05/9/2024, đối với bị cáo:
TRỊNH VĂN H, sinh ngày 24/4/1991 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; Căn cước công dân số [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Trịnh Văn H và bà Nguyễn Thị H. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/5/2024 đến ngày 28/5/2024, chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
Người chứng kiến:
- Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1976.
- Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1968.
Cùng cư trú tại địa chỉ: Thôn 8, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 22/5/2024, tại khu vực nghĩa trang Đ, thuộc địa phận thôn 9, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an xã V, huyện Vũ Thư phát hiện nghi vấn, đã kiểm tra đối với Trịnh Văn H. Qua kiểm tra đã thu tại túi quần dài bên trái phía trước Trịnh Văn H đang mặc 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy mềm màu trắng, bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu tím gắn kín hai đầu trong chứa chất tinh thể trong suốt; bị cáo khai nhận đó là ma túy đá, bị cáo mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản quản lý, niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo và trưng cầu giám định. Bản kết luận giám định số 695/KL-KTHS (MT) ngày 27/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 0,1694 gam (Không phẩy một nghìn sáu trăm chín mươi tư gam). Methamphetamin STT: 247, Danh mục IIC, phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Về nguồn gốc số ma tuý bị quản lý, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 22/5/2024 tại khu vực cầu Đ, thuộc phường Q, thành phố T với giá 200.000 đồng. Số ma túy được gói bên ngoài bằng giấy mềm màu trắng. Bị cáo cất ma túy mua được vào túi quần, điều khiển xe về khu vực nghĩa trang Đ, thuộc thôn 9, xã V, huyện Vũ Thư để sử dụng, trên đường đi về thì bị bắt quả tang.
Cơ quan Công an huyện Vũ Thư còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và 01 xe máy điện nhãn hiệu PRIMAVERA, màu sơn xanh đen, không đeo biển kiểm soát do bị cáo điều khiển.
Cáo trạng số 64/CT-VKSVT ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trịnh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn H từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 695/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản ảnh vật chứng; biên bản kiểm tra chi tiết thân thể; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 22/5/2024, tại khu vực nghĩa trang Đồng Sỏi, thuộc địa phận thôn 9, xã V, huyện V, tỉnh T, bị cáo Trịnh Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép tại túi quần dài bên trái phía trước 0,1694 gam ma túy, loại Methamphetamin, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trịnh Văn H là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ người sử dụng, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý nhưng do nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo.
[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cải tạo cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Hòa tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không có mục đích vụ lợi; bị cáo chưa có tiền án tiền sự, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng và tài sản thu giữ: Số ma túy quản lý của bị cáo hoàn lại sau giám định, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ. Chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với xe máy điện nhãn hiệu PRIMAVERA, màu sơn xanh đen, không đeo biển kiểm soát, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị A, chị A mua vào năm 2019 để làm phương tiện đi lại nhưng chưa làm thủ tục đăng ký. Chị A không biết việc Trịnh Văn H sử dụng xe máy điện của mình đi mua ma túy vào ngày 22/5/2024. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư đã trả lại chiếc xe trên cho chị Anh là đúng theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chị Anh và bị cáo Trịnh Văn H không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Về người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
[3.1] Tịch thu tiêu hủy 0,1498 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm chín mươi tám gam) ma túy, loại Methamphetamine hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 695/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
[3.2] Trả lại cho bị cáo Trịnh Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng.
(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và phiếu nhập kho đề ngày 26/8/2024).
[4] Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn H phạm tội TTTP CMT
