Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số: 69/2023/HS-ST

Ngày: 18-8-2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Tuyết
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

— Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

— Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 55/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 72/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 31 tháng 10 năm 1958, tại: Cần Thơ; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2/66 B, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ nơi cư trú: 1 C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Võ Thị H (đã chết) có vợ là Nguyễn Thị G (đã ly hôn) và 02 người con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/8/2011 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2011/HSST, đã chấp hành xong bản án ngày 22/11/2011.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1973; nơi đăng ký HKTT và cư trú: V, tổ dân phố H, huyện P, thị xã Đ, tỉnh Quãng Ngãi (Vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 2001; nơi đăng ký HKTT: Áp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: 903 đường B, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, Nguyễn Văn T thường đến Bệnh viện C (địa chỉ số B N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh) tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp. T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 20/7/2022, T đi đến trước phòng xét nghiệm máu 12, Lầu A, Khu B, Bệnh viện C thấy chị Nguyễn Thị Mỹ D đang đứng hỏi bảo vệ thủ tục lấy sổ khám bệnh. Chị D đeo túi vải và có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax ở ngăn ngoài cùng. Lúc này, T áp sát, lén lút dùng tay lấy trộm điện thoại trên rồi bỏ đi. Sau đó, T mang điện thoại đến Cửa hàng điện thoại di động Tuấn P (địa chỉ số A H, Phường D, Quận E) bán được 6.000.000 đồng, có được tiền T tiêu xài cá nhân. Do bận chuyện gia đình, ngày 27/9/2022 chị D mới đến cơ quan công an trình báo. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q điều tra làm rõ. Theo Kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 17/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận E kết luận điện thoại Iphone 12 Promax – 256GB, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80%, trị giá 17.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 27/9/2022, T đi từ nhà trọ ở Quận F đến Bệnh viện C, khi đến trước Phòng số 2, Khu B, Lầu A, T phát hiện chị Trần Thị L đang đứng chờ khám bệnh, chị L đeo ba lô màu đen ở phía sau lưng. Lúc này, T áp sát, lén lút dùng tay kéo mở khóa ba lô lấy trộm 01 ví cầm tay màu đen của chị L, bên trong có: Tiền Ngân hàng Việt Nam 6.000.000 (sáu triệu) đồng; 01 giấy phép lái xe, 01 giấy đăng ký xe, 01 hộ chiếu, 01 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Trần Thị L. Trong lúc T đang cầm chiếc ví trên tay, định tẩu thoát thì bị Tổ tuần tra Công an Q cùng bảo vệ Bệnh viện C phát hiện, bắt quả tang, giải giao về trụ sở Công an P1, Quận E lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai người bị hại, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) ví màu đen bên trong có: Tiền Ngân hàng Việt Nam 6.000.000 (sáu triệu) đồng; 01 (một) giấy phép lái xe, 01 (một) giấy đăng ký xe, 01 (một) hộ chiếu, 01(một) giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Trần Thị L.
  • 01 (một) áo thun màu xanh dương sọc đen và 01 (một) quần vải màu đen, là trang phục của T mặc khi thực hiện vụ trộm cắp thứ nhất (thu giữ khi tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T nhà trọ ở số A C, Phường A, Quận F).
  • 01 (một) áo thun ngắn tay sọc ngang màu trắng (thu trên người của Nguyễn Văn T khi bắt quả tang).

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Trần Thị L đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường; bị hại là bà Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu bồi thường giá trị của tài sản bị mất là 17.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 59/CT-VKS-Q5 ngày 04/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đã truy tố; bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.

Bị hại là bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày sự việc xảy ra ngày 20/7/2022 đúng như Bản cáo trạng số 59/CT-VKS-Q5 ngày 04/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5. Sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại, cùng ngày 20/7/2022 bà đã trình báo với bảo vệ của bệnh viện và được xem lại trích xuất camera của bệnh viện, nhận dạng đúng Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại di động của bà. Hiện bà vẫn chưa nhận lại được điện thoại bị mất do chưa thu hồi được nên bà yêu cầu Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường giá trị của tài sản bị mất là 17.000.000 đồng. Ngoài ra bà không có ý kiến, yêu cầu nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp, tài sản chiếm đoạt mỗi vụ trên 2.000.000 đồng nên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điềm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T hình phạt tù với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Trần Thị L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét; đối với bị hại là bà Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu bồi thường giá trị của tài sản bị mất là 17.000.000 đồng là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tuyên buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường 17.000.000 đồng cho chị D. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun màu xanh dương sọc đen, 01 (một) quần vải màu đen, 01 (một) áo thun ngắn tay sọc ngang màu trắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đối với sự vắng mặt của bị hại là bà Trần Thị L tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, bà L đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bà L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì trong vụ án; do đó sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị hại, người biết việc, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 20/7/2022, tại trước Phòng xét nghiệm máu 12, Lầu A, Khu B, Bệnh viện C, số B N, Phường A, Quận E, Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax – 256GB của bà Nguyễn Thị Mỹ D. Theo Kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 17/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận điện thoại Iphone 12 Promax – 256GB, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80%, trị giá 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.

Vào ngày 27/9/2022, tại trước Phòng số 2, Khu B, Lầu A, Bệnh viện C, T tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 ví da bên trong có số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng cùng giấy tờ tùy thân của bà Trần Thị L.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn T đã lén lút chiếm đoạt trị giá 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng. Như vậy, các hành vi của Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 20/7/2022 bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax – 256GB, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này; đến ngày 27/9/2022 tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 ví da bên trong có số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng, thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo sinh năm 1958, là người cao tuổi theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, cần xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ Khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) ví màu đen bên trong có: Tiền Ngân hàng Việt Nam 6.000.000 (sáu triệu) đồng; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Trần Thị L; 01 (một) giấy đăng ký xe mang tên Trần Thị L, 01 (một) hộ chiếu mang tên Trần Thị L, 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị L, là tài sản của bà Trần Thị L bị trộm cắp, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà L là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
  • 01 (một) áo thun màu xanh dương sọc đen, 01 (một) quần vải màu đen và 01 (một) áo thun ngắn tay sọc ngang màu trắng là tài sản cá nhân T mặc khi thực hiện các hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Xét yêu cầu của bị hại là bà Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu bị cáo T có trách nhiệm bồi thường giá trị của chiếc điện thoại Iphone 12 Promax – 256GB là 17.000.000 đồng, thấy rằng: Theo Kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS nêu trên, chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax – 256GB, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80%, trị giá 17.000.000 đồng. Bị cáo đã chiếm đoạt chiếc điện thoại của bị hại có giá trị 17.000.000 đồng, bị hại vẫn chưa nhận lại được điện thoại đã bị mất do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q vẫn chưa thu hồi được do đó yêu cầu bồi thường của bị hại là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015; Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại 17.000.000 đồng.

[9] Đối với việc T khai đem bán điện thoại di động tại Cửa hàng Đ (địa chỉ số A H, Phường D, Quận E), qua điều tra xác minh không có cơ sở xác định có việc thu mua điện thoại do phạm tội mà có do đó không có cơ sở xử lý hành vi của Cửa hàng điện thoại di động Tuấn P.

[10] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn đề nghị miễn nộp án phí do thuộc trường hợp “người cao tuổi”. Xét bị cáo T là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứng, giải quyết phần dân sự là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 9 năm 2022.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015,

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) cho bà Nguyễn Thị Mỹ D. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun màu xanh dương sọc đen, 01 (một) quần vải màu đen, 01 (một) áo thun ngắn tay sọc ngang màu trắng.

    (Tình trạng giao nhận các vật chứng nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2023 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

  4. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng bị cáo Nguyễn Văn T được miễn nộp các khoản án phí nêu trên (thuộc trường hợp người cao tuổi).

  5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

    Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2023/HS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 69/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger