|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày: 18-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Văn Vô
Bà Trần Thị Tuyết
Thư ký phiên tòa:
Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ Công an Q): Ông Phan Văn D - Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Quang Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử (trực tuyến) sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Sơn B, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1957 tại: Quảng Ngãi; giới tính: NamNơi đăng ký thường trú: Khu dân cư D, thôn F, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: G đường số B, khu phố H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Na; con bà: Nguyễn Thị N; Có vợ tên Nguyễn Ngọc H (đã ly hôn); Có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Lưu Văn T, sinh năm 1963; Nơi cư trú: 13 đường số C, khu dân cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: 385 đường D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh năm: 1983; Nơi cư trú: 596 Bà H, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Lưu Văn T và Lương Sơn B1 là bạn bè quen biết nhau từ trước. Vào năm 2022, ông T tranh chấp với chị ruột là bà Lưu Thái B2 về quyền sử dụng đất và được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, ông Thành ủy q cho Lương Sơn B đại diện tiến hành nhận các giấy tờ pháp lý của Tòa án về giao lại cho ông T. Ông T nói với B nếu thắng vụ án tranh chấp trên (tức thắng kiện và toàn quyền sử dụng đất tranh chấp) thì ông T sẽ cho B một số tiền, nhưng không nói cụ thể bao nhiêu và không có hợp đồng hoặc cam kết. Ngày 14/02/2023, Tòa án nhân dân hòa giải thành công vụ án trên, ông T nhận được số tiền 17.000.000.000 đồng, ông T nói với B là đã thiệt hại mất một nửa giá trị quyền sử dụng đất nên chỉ cho B số tiền 80.000.000 đồng. Trước đây, B đã mượn của ông T 50.800.000 đồng nên ông T chỉ chuyển thêm cho Bá 30.000.000 đồng. Do không thỏa mãn với số tiền trên nên ngày 24/09/2023, B gọi điện cho ông T yêu cầu phải đưa thêm tiền cho B. Tuy nhiên, ông T không đồng ý, B liên tục gọi điện thoại, nhắn tin nhiều lần nên ông T chặn số của B. Ngày 26/09/2023, B gọi điện cho bà Nguyễn Thị S (bạn của ông T) nói bà S ghi âm lại cuộc nói chuyện và chuyển cho ông T với nội dung B sẽ giết ông T treo băng rôn tại nhà ông T làm mất uy tín, danh dự ông T nếu ông T không ra gặp mặt để đưa tiền cho B số tiền 170.000.000 đồng, bà S đã ghi âm lại cuộc nói chuyện và chuyển lại cho ông T. Đến ngày 08/10/2023, B sử dụng Zalo đăng hình ảnh của ông T kèm nội dung “ai biết người này ở đâu và ai bị lừa đảo thì nhắn tin cho ông B”. Do lo sợ nên ngày 20/10/2023, Ông T gọi điện cho B nói chuyện thì B tiếp tục đe dọa và yêu cầu ông T đưa cho B số tiền 170.000.000 đồng, tức là 01% trên tổng số tiền nhận được trong vụ tranh chấp. Do ông T đã đưa trước cho Bá 30.000.000, vì vậy B tiếp tục yêu cầu đưa số tiền còn lại là 140.000.000 đồng. Ông T kêu B nếu đưa số tiền trên thì B không được quậy phá, đưa hình ảnh của ông T lên mạng xã hội để xúc phạm danh dự và đe dọa ông T nữa thì B đồng ý. Sau đó ông T kêu thư ký của mình tên Dương Thị Tường V đến quán cà phê, địa chỉ H T, Quận C để đưa trước cho B số tiền 20.000.000 đồng. Bá viết giấy đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng, số tiền còn lại số tiền sẽ nhận vào
3
ngày 23/10/2023 và cam kết khi nhận đủ số tiền 120.000.000 đồng còn lại Bá sẽ không đe dọa, quậy phá, không đưa hình ảnh ông T lên mạng xã hội. Đến ngày 23/10/2023, ông T tiếp tục đem 120.000.000 đồng đến quán C, số B N, Phường C, Quận E để đưa cho B, khi B nhận số tiền trên thì bị Phòng C1 Công an Thành phố H kiểm tra, bắt quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu xanh dương biển số 52U3-9588, số khung: BLHHC01044Y345746, số máy: HC09E-3045786; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus màu vàng, số I: 354451067807450 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04 màu xám đen, số I: 353263210239965; 01 (một) USB chứa dữ liệu ghi nhận nội dung một thanh niên nói chuyện với ông T và cuộc nói chuyện giữa Lương Sơn B và bà Nguyễn Thị S; 01 (một) giấy cam kết ghi ngày 20/10/2023 có chữ ký của Lương Sơn B, xác nhận đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng từ ông Lưu Văn T, số tiền còn lại (120.000.000 đồng) sẽ nhận vào ngày 23/10/2023. Cam kết đến ngày 23/10/2023 B sẽ không đe dọa, quậy phá, không đưa hình ảnh ông T1 lên mạng xã hội (kèm theo hồ sơ vụ án); số tiền 120.000.000 đồng (gồm 600 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lưu Văn T không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số: 73/CT-VKSQ5 ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lương Sơn B về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Sơn B về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lương Sơn B với mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm.
Về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật; về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lưu Văn T không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Lương Sơn B không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lương Sơn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lương Sơn B đã có hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần, gây áp lực bằng cách sử dụng mạng xã hội Zalo đăng hình ảnh của ông Lưu Văn T kèm theo nội dung: “ai biết người này ở đâu và ai bị lừa đảo thì nhắn tin cho ông B” nhằm làm ảnh hưởng đến uy tính, danh dự của ông T để buộc ông T đưa cho bị cáo với tổng số tiền là 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng), do lo sợ nên ông T đã đưa cho bị cáo B số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 20/10/2023, đến ngày 23/10/2023 ông T tiếp tục đưa cho bị cáo B số tiền còn lại là 120.000.000 đồng và bị Công an bắt quả tang khi bị cáo B đang nhận tiền tại quán C, số B N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Sơn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại d Khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết hành vi sử dụng thủ đoạn uy hiếp tinh thần đối với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi cá nhân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; mới phạm tội lần đầu. Do đó, cần xem xét áp dụng các tình
5
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[8] Về xử lý vật chứng:
Xét 01 (một) giấy cam kết ghi ngày 20/10/2023 có chữ ký của Lương Sơn B, xác nhận đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng từ ông Lưu Văn T, số tiền còn lại (120.000.000 đồng) sẽ nhận vào ngày 23/10/2023. Cam kết đến ngày 23/10/2023 B sẽ không đe dọa, quậy phá, không đưa hình ảnh ông T1 lên mạng xã hội (kèm theo hồ sơ vụ án) là tài liệu chứng cứ của vụ án hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án nên phải tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Xét số tiền 120.000.000 đồng (gồm 600 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng) Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho bị hại ông Lưu Văn T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus màu vàng, số I: 354451067807450 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04 màu xám đen, số I: 353263210239965 là tài sản cá nhân của bị cáo B đã sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu xanh dương biển số 52U3-9588, số khung: BLHHC01044Y345746, số máy: HC09E-3045786 do bà Huỳnh Thị Tuyết N1 đứng tên chủ sở hữu, bà N1 khai đã bán chiếc xe trên cho người đàn ông không rõ lai lịch, ông Nguyễn Tấn H1 khai mua chiếc xe trên của người tên N2 không rõ lai lịch và ông H1 cho bị cáo Bá mượn sử dụng, xét chiếc xe ông H1 có được chưa rõ nguồn gốc nên cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho ông Nguyễn Tấn H1.
6
Xét 01 (một) USB chứa dữ liệu ghi nhận nội dung một thanh niên nói chuyện với ông T và cuộc nói chuyện giữa Lương Sơn B và bà Nguyễn Thị S là tài liệu, chứng cứ, hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lưu Văn T không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 170; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lương Sơn B 03 (ba) năm tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 10 năm 2023.
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus màu vàng, số I: 354451067807450 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04 màu xám đen, số I: 353263210239965.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu xanh dương biển số 52U3-9588, số khung: BLHHC01044Y345746, số máy: HC09E-3045786 trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho ông Nguyễn Tấn H1.
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa dữ liệu ghi nhận nội dung một thanh niên nói chuyện với ông T và cuộc nói chuyện giữa Lương Sơn B và bà Nguyễn Thị S (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) giấy cam kết ghi ngày 20/10/2023 có chữ ký của Lương Sơn B, xác nhận đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng từ ông Lưu Văn T, số tiền còn lại (120.000.000 đồng) sẽ nhận vào ngày 23/10/2023. Cam kết đến ngày 23/10/2023 B sẽ không đe dọa, quậy phá, không đưa hình ảnh ông T1 lên mạng xã hội (kèm theo hồ sơ vụ án)
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
7
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Sơn B-Cưỡng đoạt tài sản
