|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17/9/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mý và ông RCom Blan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Mạnh H; địa chỉ: Làng Ô, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Bị đơn: Bà Mai Thị H1; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Rơ Châm N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Mạnh H và bà Mai Thị H1 xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2004 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Sau khi kết hôn, ông H và bà H1 chung sống tại xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk, cuộc sống của vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 04-05 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân từ việc ông H muốn đưa bà H1 cùng các con đi cùng đến xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để lập nghiệp, sinh sống nhưng khi bàn bạc trao đổi thì bà H1 không đồng ý nên sau đó ông H tự đi một mình và từ đó đến nay khoảng 15 năm, ông H và bà H1 không chung sống cùng nhau. Hiện tại ông H và bà H1 đều không còn mong muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân nên đề nghị giải quyết cho ông H được ly hôn với bà H1.
- Về con chung: Ông Lê Mạnh H và bà Mai Thị H1 có 02 người con chung là Lê Thị Thúy V, sinh ngày 02/12/2004 và Lê Thị Thanh N1, sinh ngày 26/8/2007. Đối với Lê Thị Thúy V đã trưởng thành nên ông H không có yêu cầu gì. Đối với cháu Lê Thị Thanh N1 chưa đủ 18 tuổi, từ trước đến nay cháu N1 do bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nên ông H yêu cầu sau khi ly hôn, giao cháu N1 cho bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn là bà Mai Thị H1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến, yêu cầu và không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ông Lê Mạnh H và bà Mai Thị H1 đều đủ điều kiện kết hôn, đã tự đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên hôn nhân hợp pháp. Do mâu thuẫn xảy ra trong thời kỳ hôn nhân, ông Lê Mạnh H muốn ly hôn với bà Mai Thị H1 nên có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Bị đơn cư trú tại: xã C, huyện E, tỉnh Đăk Lăk nhưng giữa nguyên đơn và bị đơn thống nhất yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú giải quyết vụ án nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu giải quyết về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn với bị đơn, ngoài ra không yêu cầu nội dung nào khác nên quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng đã vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn:
Ông Lê Mạnh H và bà Mai Thị H1 tự nguyện kết hôn, chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 04-05 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H mong muốn chuyển gia đình đến huyện I, tỉnh Gia Lai để lập nghiệp, sinh sống nhưng bà H1 không muốn đi cùng. Sau đó, một mình ông H đến xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để sinh sống cho đến nay, còn bà H1 sinh sống tại xã C, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Các bên đã không còn chung sống với nhau trong khoảng thời gian 15 năm và không còn liên lạc quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cho thấy các bên không còn tình cảm vợ chồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thông báo, tống đạt văn bản tố tụng cho bà H1 nhưng bà H1 không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa, ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, cho thấy các bên không còn mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Lê Mạnh H về việc ly hôn với bà Mai Thị H1.
[2.2] Về con chung: Xét yêu cầu của ông H về việc giao con chưa thành niên là Lê Thanh N1, sinh ngày 26/8/2007 cho bà H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, thấy rằng: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là trách nhiệm của cha, mẹ đối với con. Từ khi ông H và bà H1 không chung sống cùng nhau, cháu N1 sinh sống cùng bà H1 đã ổn định môi trường sống; bà H1 không vi phạm về nuôi dưỡng, chăm sóc con chưa thành niên. Cháu N1 trình bày nguyện vọng mong muốn tiếp tục được ở với mẹ mà bà H1. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Lê Thanh N1, sinh ngày 26/8/2007 cho bà Mai Thị H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[3] Về án phí: Ông Lê Mạnh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điểu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Mạnh H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Lê Mạnh H và bà Mai Thị H1.
- - Về con chung: Giao cháu Lê Thị Thanh N1, sinh ngày 26/8/2007 cho bà Mai Thị H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
- Về án phí: Ông Lê Mạnh H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009511 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ông Lê Mạnh H và bà Mai Thị H1 đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Vũ |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Lê Mạnh Hùng - Mai Thị Hải
