Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

—————————

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thuý Hà

2. Bà Lê Thị Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang V - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Việt D, sinh ngày 04/4/1997 tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn A, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn 12/12; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 và bà Phạm Thị H1, sinh năm 1978; vợ, con; Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 001987/QĐ-XPHC ngày 04/3/2024 của Công an thành phố T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Xử phạt bằng hình thức phạt tiền.

* Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; (có mặt tại phiên toà).

- Bị hại: Anh Mai Đức T, sinh năm 1987

Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. ( vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt)

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. (có mặt tại phiên toà)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 18/02/2024, Nguyễn Việt D, cư trú tại thôn A, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đang ăn tại quán ăn thuộc phường H thì nhìn thấy xe ô tô của anh Mai Đức T, nơi ở hiện tại tổ dân phố A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đi qua, D nhớ đến việc anh T chưa thanh toán tiền công lái xe thuê trước đó.

Sau khi ăn xong, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát 22B2 - 061.71 đến nhà Mai Đức T ở tại tổ dân phố A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, mục đích gặp T đòi lại số tiền công mà trước đây Tập còn nợ D khi D còn làm thuê cho T. Đến nhà T, D gọi điện thoại gọi cho T nhưng T không nghe máy, bực tức D nhặt 01 nửa viên gạch bên đường ném vào kính chắn gió của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hilux - Gun135L - DTTSHU, màu sơn cam, biển số 22C - 067.13, sau đó D nhặt 02 viên đã trên đường tiếp tục ném vào kính chắn gió và nắp capo xe ô tô nhãn hiệu Toyota biển số 22C - 067.13 này. Không dừng lại, D nhặt 01 nửa viên gạch trên đường tiếp tục ném vào vè che mưa và kính bên ghế phụ của xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco, loại xe K165 - CS/TK1-1, màu sơn xanh, biển kiểm soát 22C - 081.27 của anh T. Hai chiếc xe ô tô nêu trên là tài sản của Mai Đ Tập đứng tên chủ sở hữu hợp pháp đều bị hư hỏng nhiều vị trí. Sau đó D điều khiển xe mô tô về nhà.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma tuý đối với Nguyễn Việt D, có kết quả (+) dương tính, có chất ma tuý trong cơ thể D.

Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự thành phố T. Kết luận:

  • Xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco, loại xe K165 - CS/TK1-1, màu sơn xanh, biển kiểm soát 22C - 081.27. Giá trị 1.002.000 đồng (Một triệu, không trăm linh hai nghìn đồng).
  • Xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hilux - Gun135L - DTTSHU, màu sơn cam, biển kiểm soát 22C - 067.13. Giá trị thiệt hại 4.532.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm, ba mươi hai nghìn đồng).
  • Giá trị thiệt hại (chi phí khắc phục sửa chữa) của các tài sản trên là: 5.534.000 đồng (Năm triệu, năm trăm, ba mươi tư nghìn đồng).

Do không đồng ý với Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự thành phố T. Ngày 19/3/2024, Mai Đức T đã có đơn đề nghị định giá lại tài sản bị thiệt hại.

Tại Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang. Kết luận:

  • Giá trị khắc phục, sửa chữa phần bị hư hỏng, thiệt hại xe ô tô biển số 22C - 067.13 là 12.100.000 đồng.
  • Giá trị khắc phục, sửa chữa phần bị hư hỏng, thiệt hại xe ô tô biển số 22C - 081.27 là 3.000.000 đồng.

2

Tổng giá trị tài sản thiệt hại xác định theo yêu cầu định giá lại lại tài sản lần thứ nhất số 657/YC-CQCSĐT-HS ngày 28/3/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T là 15.100.000 đồng.

Vậy tổng giá trị thiệt hại về tài sản mà bị cáo Nguyễn Việt D gây ra là 15.100.000 đồng (Mười lăm triệu, một trăm nghìn đồng).

* Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT thu giữ, tạm giữ:

  • Một xe ô tô nhãn hiệu THACO, loại xe K165-CS/TK1-1, số máy: JT-736915, số khung: RNHA500BKHC073137, màu sơn xanh, biển số 22C-081.27, đã qua sử dụng;
  • Một xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe HILUX-GUN135L-DTTSHU, số máy: 2GD4752278, số khung: MR0JB3DD1K, màu sơn cam, biển số 22C-067.13, đã qua sử dụng;
  • Một xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu sơn đen, biển số 22T1-061.71, số khung RLHJA3933PY627657, số máy JA70E0097634, đã qua sử dụng.
  • Một viên đá, màu nâu, kích thước (27x23x15) cm; 01 (một) viên đá, màu nâu, kích thước (20x12x11) cm; 01 (một) nửa viên gạch, màu đỏ, kích thước (11x 9x5,5) cm; 01 (một) nửa viên gạch, màu đỏ, kích thước (14x9x5,5) cm và 01 (một) viên gạch, màu đỏ, kích thước (21x9x5,5) cm (được niêm phong theo quy định).

* Về xử lý vật chứng: Tại Quyết định xử lý vật chứng số 535/QĐ ngày 08/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Quyết định:

  • Trả lại một xe ô tô nhãn hiệu THACO, loại xe K165-CS/TK1-1, số máy: JT-736915, số khung: RNHA500BKHC073137, màu sơn xanh, biển số 22C-081.27, đã qua sử dụng và 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe HILUX-GUN135L-DTTSHU, số máy: 2GD4752278, số khung: MR0JB3DD1K, màu sơn cam, biển số 22C-067.13, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Mai Đức T;
  • Trả lại một xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu sơn đen, biển số 22T1-061.71, số khung RLHJA3933PY627657, số máy JA70E0097634, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H – SN: 1976, trú tại thôn A, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

*Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Mai Đức T đề nghị Nguyễn Việt D bồi thường số tiền 144.826.000 đồng là tiền chi phí sửa chữa 02 xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, loại xe K165-CS/TK1-1, số máy: JT-736915, số khung: RNHA500BKHC073137, màu sơn xanh, biển số 22C-081.27 và ô tô bán tải nhãn hiệu TOYOTA, loại xe HILUX-GUN135L-DTTSHU, số máy: 2GD4752278, số khung: MR0JB3DD1K, màu sơn cam, biển số 22C-067.13 và tiền chi phí thuê 02 xe ô tô khác để phục vụ công việc kinh doanh từ ngày 25/02/2024 đến ngày 25/5/2024 do Cơ quan điều tra đã tạm giữ 02 xe ô tô nêu trên để phục vụ công tác điều tra. Quá trình điều tra D đã tác động gia đình nộp số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường, Cơ quan điều tra đã gửi vào tài khoản tạm giữ số 3941.0.1050177.00000 của Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố T chờ xử lý theo quy định.

Trên cơ sở hành vi của bị cáo, ngày 05 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang ban hành bản cáo trạng số 62/CT-VKSTP truy tố bị cáo

3

Nguyễn Việt D về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Áp dụng: khoản 1, Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 (tám) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 20/2/2024.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đề nghị HĐXX Căn cứ Điều 48 BLHS, các Điều 584, 585, 586, 588, 589, 357 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Mai Đức T tổng số tiền là 75.000.000đ (bẩy mươi năm triệu đồng)

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) viên đá màu nâu, kích thước (27x23x15)cm; 01 viên đá màu nâu kích thước (20x12x11)cm; 01 (một) nửa viên gạch, màu đỏ kích thước (14x9x5,5)cm; và 01 (một) viên gạch màu đỏ, kích thước (21x9x5,5) cm (được niêm phong theo quy định).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; án phí dân sự có giá ngạch, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường (tiền khắc phục bồi thượng thiệt hại, tiền thuê xe) tổng số tiền bồi thường cho bị hại là 75.000.000₫ (bẩy mươi năm triệu đồng) bị cáo nhất trí.

Tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị H1 không có yêu cầu đề nghị gì về số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) chị đã nộp thay bị cáo tại cơ quan điều tra và được gửi vào tài khoản tạm giữ để khắc phục hậu quả cho bị hại.

Bị hại anh Mai Đức T có đơn xin xét xử vắng mặt, ý kiến của anh T tại biên bản lấy lời khai, anh yêu cầu đề nghị về phần dân sự đối với bị cáo, đề nghị bị cáo phải có nghĩa vụ trả cho anh tổng số tiền (tiền khắc phục bồi thượng thiệt hại, tiền thuê xe) với tổng số tiền là 75.000.000₫ (Bẩy mươi năm triệu đồng).

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

4

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút, 18/02/2024 tại tổ A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Nguyễn Việt D, cư trú tại thôn A, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của Mai Đức T, nơi ở hiện nay tại tổ dân phố A, phường N, thành phố T. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 15.100.000 đồng (Mười năm triệu một trăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Việt D đã phạm vào tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại và làm thiệt hại đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự và cần xử bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tác động gia đình tự nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại, có ông nội bà nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, nên HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm một phần mức án cho bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 588, 589, 357 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Việt D phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Mai Đức T tổng số tiền là 75.000.000₫ (Bẩy mươi năm triệu đồng). (Bị cáo Nguyễn Việt D được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) do đã nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên

5

toà theo uỷ nhiệm chi lập ngày 08/7/2024, hiện đang gửi tại tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang). Số tiền bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường là 65.000.000₫ (sáu mươi lăm triệu đồng).

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) viên đá màu nâu, kích thước (27x23x15)cm; 01 viên đá màu nâu kích thước (20x12x11)cm; 01 (một) nửa viên gạch, màu đỏ kích thước (11x9x5,5)cm; 01 (một) viên gạch màu đỏ, kích thước (14x9x5,5) cm; 01 (một) viên gạch màu đỏ, kích thước (21x9x5,5) cm (được niêm phong theo quy định).

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

*Quá trình điều tra xác định: Ngày 12/01/2024, Nguyễn Việt D khai mua và sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT có văn bản số 56/CV-CQĐT-HS ngày 21/02/2024 chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Trưởng Công an thàng phố T để xử phạt hành chính. Ngày 04/3/2024, Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1, Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt D 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 20/02/2024.

2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 588, 589, 357 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Mai Đức T tổng số tiền là 75.000.000đ (bẩy mươi năm triệu đồng). (Bị cáo Nguyễn Việt D được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đã tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên toà theo uỷ nhiệm chi lập ngày 08/7/2024, hiện đang gửi tại tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang). Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Mai Đức T số tiền là 65.000.000₫ (sáu mươi lăm triệu đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thoả thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3.Về vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) viên đá màu nâu, kích thước (27x23x15)cm; 01 viên đá màu nâu kích thước (20x12x11)cm; 01 (một) nửa viên gạch, màu đỏ kích thước (11x9x5,5)cm; 01 (một) viên gạch màu đỏ, kích thước (14x9x5,5) cm; 01 (một) viên gạch màu đỏ, kích thước (21x9x5,5) cm (được niêm phong theo quy định).

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 11/6/2024).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Nguyễn Việt D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị H1 có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại anh Mai Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

7

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND TP Tuyên Quang;
  • - Công an TP Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hà Hữu Bình - Lý Thị Nhân

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Hà

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger