Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày: 17-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Thanh Tâm

2. Ông Nguyễn Trọng Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 24-4-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: Không có), sinh năm 1994 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ B, khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông (không rõ) và con bà (không rõ); vợ con: Chưa có;

Tiền án: 02.

+ Ngày 24/4/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 23/2020/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2020.

+ Ngày 17/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 63/2022/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 14/11/2006, bị Ủy ban nhân dân thị xã L (nay là thành phố L) ra Quyết định số 181/QĐ-UBND, áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 14/11/2008.

+ Ngày 16/01/2009, bị Ủy ban nhân dân thị xã L (nay là thành phố L) ra Quyết định số 13/QĐ-UBND, áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 30/11/2010.

+ Ngày 19/7/2012, bị Ủy ban nhân dân thị xã L (nay là thành phố L) ra Quyết định số 131/QĐ-UBND, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, thời hạn 24 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 24/7/2014.

+ Ngày 04/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 85/2015/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 07/6/2016.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ 02/01/2024 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Minh T1, sinh năm 2000. Nơi cư trú: khu phố D, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Tổ D, ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2012, hình thức sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine).

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh xám, biển số 60C1 – 026.09 đến khu vực sau chợ L thuộc khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để tìm gặp một người đàn ông tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá. Q đồng ý, sau đó đưa cho Được 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy đá và 01 đoạn ống hút nước nhựa, cắt ngắn, hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá. Mua xong, Được cất giấu 01 đoạn ống hút nhựa, hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá vào túi quần phía trước, bên trái Được đang mặc và cầm trên tay trái 01 gói nylon hàn kín bên trong có ma túy đá đi về. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, khi Được đang điều khiển xe mô tô trên đi trên đường số A, thuộc khu phố C, phường S, thành phố L tìm chỗ sử dụng thì bị Công an phường S dừng xe kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Được tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong số ma túy trên đưa Được về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đ đã thừa nhận hành vi cất giấu ma túy để sử dụng của mình.

Tại bản kết luận giám định số 16/KL-KTHS, ngày 10/01/2024, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4617 gam, loại: Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra, Được đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng thu giữ và xử lý:

- 01 gói nylon hàn kín bên trong có ma túy đá và 01 đoạn ống nhựa hút nước cắt ngắn, hàn kín bên trong có ma túy đá thu giữ trên người bị cáo Được. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong kí hiệu số 16/KL-KTHS ngày 10/01/2024.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh, bạc, biển số 60C1 – 026.09 Được sử dụng khi phạm tội, đây là xe do Được mượn của anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1983, nơi cư trú: khu phố S, phường S, thành phố L, khi cho mượn anh T không biết Được mượn xe để đi thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp là anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng số 70/CT-VKSLK ngày 17/4/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.

Về dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon hàn kín bên trong có ma túy đá và 01 đoạn ống nhựa hút nước cắt ngắn, hàn kín bên trong có ma túy đá thu giữ trên người bị can Được. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong kí hiệu số 16/KL-KTHS ngày 10/01/2024.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tham gia tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo cũng không có ý kiến gì. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định xác định:

Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 02/01/2024, tại đường số A, thuộc khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ 01 gói và 01 đoạn ống nhựa chứa ma túy, có khối lượng 0,4617 gam, loại: Methamphetamine, mục đích để sử dụng dần.

Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, Cáo trạng số 70/CT-VKSXL ngày 17-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các loại tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng nhận thức rõ hiểm họa của ma túy, bản thân bị cáo từng bị xử lý hành chính về nhiều hành vi vi phạm và bị xét xử nhiều lần về các hành vi phạm tội khác nhau nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật, do đó cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm mới đủ sức răn đe với bị cáo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về vật chứng:

- 01 gói nylon hàn kín bên trong có ma túy đá và 01 đoạn ống nhựa hút nước cắt ngắn, hàn kín bên trong có ma túy đá thu giữ trên người bị cáo Được. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong kí hiệu số 16/KL-KTHS ngày 10/01/2024. Đây là mẫu vật ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh, bạc, biển số 60C1 – 026.09 Được sử dụng khi phạm tội, đây là xe do Được mượn của anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1983, nơi cư trú: khu phố S, phường S, thành phố L, khi cho mượn anh T không biết Được mượn xe để đi thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp là anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên Q ở khu vực sau chợ L thuộc khu phố A, phường X, thành phố L đã bán ma túy cho bị cáo Đ, hiện không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh, làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người bị kết án nên phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như đề xuất về hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm o khoản 2, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 01 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon hàn kín bên trong có ma túy đá và 01 đoạn ống nhựa hút nước cắt ngắn, hàn kín bên trong có ma túy đá thu giữ trên người bị cáo Được. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong kí hiệu số 16/KL-KTHS ngày 10/01/2024.

(Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Long Khánh;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Long Khánh;
  • - CQ THAHS Công an thành phố Long Khánh;
  • - Chi cục THADS thành phố Long Khánh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Đào

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Được phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger