TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GC TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày 16-4-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Bích Liên;
- Ông Trần Công Mẫn;
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC tham gia phiên toà: bà Nguyễn Trường Bảo Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 262/2023/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm: 1993;
Địa chỉ: 63 Khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. (Xin vắng mặt)
Bị đơn: Anh Đỗ Văn D, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: 63 Khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Chị và anh D chung sống với nhau từ năm 2010, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường 1, thị xã GC cấp giấy chứng nhận kết hôn số 23/2012 vào ngày 15/5/2012. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nhưng trầm trọng nhất là năm 2023 do bất đồng quan điểm ngày một nhiều, hiện tại anh D đã có tình cảm với người phụ nữ khác, chị và anh D đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh D.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Đỗ Lê Kim H, sinh ngày 07/11/2010 và Đỗ Lê Kim Th, sinh ngày 30/11/2012. Khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Đỗ Văn D có địa chỉ tại phường 1, thị xã GC nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị T xin ly hôn với anh D, yêu cầu nuôi con chung, căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[4] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị T và anh D chung sống với nhau từ năm 2010, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường M, thị xã GC cấp giấy chứng nhận kết hôn số 23/2012 vào ngày 15/5/2012 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị T cho rằng trong thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh D đã có tình cảm với người khác, hiện tại chị và anh D đã không còn sống chung, không còn quan tâm nhau. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh D.
Trong quá trình giải quyết, anh D đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng anh D không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải. Cho thấy anh D không còn tha thiết hàn gắn cuộc hôn nhân này.
Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã có thời gian ly thân với nhau nhưng chị T và anh D đến nay vẫn không thể hàn gắn được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T với anh D.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Đỗ Lê Kim H, sinh ngày 07/11/2010 và Đỗ Lê Kim Th, sinh ngày 30/11/2012. Khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện tại 02 cháu Kim H và Kim Th đang sống cùng chị T và được chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; 02 cháu đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ khi cha mẹ ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án anh D cũng không có thể hiện ý kiến hay yêu cầu gì về con chung; Qua xác minh tại địa phương thì anh chị đều có thu nhập đủ điều kiện nuôi con nhưng để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định cho 02 cháu nên Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cháu Đỗ Lê Kim H và Đỗ Lê Kim Th cho chị Lê Thị T tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp cần thiết thì chị T, anh D được thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nhằm đảm bảo quyền lợi cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[5]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6]. Về quyền kháng cáo của đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị T được ly hôn với anh Đỗ Văn D.
Về con chung: Giao cháu Đỗ Lê Kim H, sinh ngày 07/11/2010 và Đỗ Lê Kim Th, sinh ngày 30/11/2012 cho chị Lê Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Đỗ Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết thì chị T và anh D được thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nhằm đảm bảo quyền lợi cho con.
Về án phí: Chị Lê Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000599 ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh Đỗ Văn D không phải nộp án phí.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Thảo |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GC, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GC, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm: 1993; Địa chỉ: 63 Khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. (Xin vắng mặt) 2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn D, sinh năm: 1978; Địa chỉ: 63 Khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt).
