Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-6-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Sơn
  2. Bà Nguyễn Ngọc Cơ Minh;

-Thư ký phiên tòa:Trịnh Văn Ngọc-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng– Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18/3/2024, về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 27/5/2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1989. Có mặt.

    Địa chỉ: K bên nhà số D đường số B, tổ F, thôn B, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

  2. Bị đơn: Anh Lưu Công M, sinh 1985. Vắng mặt.

    Địa chỉ: K bên nhà số D đường số B, tổ F, thôn B, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 8/3/2024, cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo, trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày: Chị Bùi Thị H và anh Lưu Công M tìm hiểu, yêu thương nhau và được gia đình hai bên tổ chức ăn hỏi, sau đó về chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2004. Đến năm 2011 hai bên mới tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước. Trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên lục đục với nhau về chuyện anh M ham chơi, làm không đưa tiền cho vợ để lo gia đình mà còn gây ra nợ nần, không quan tâm đến con cái. Chị H và gia đình khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh M không chịu nghe, vẫn chứng nào tật nấy. Chị H và anh M đã nhiều lần sống ly thân nhau (bỏ nhau), để mong anh M sữa đổi, nhưng không có kết quả. Nay chị H quyết định ly hôn. Chị H và anh M có 01 con chung: Lưu Bùi Yến N, sinh ngày 31/7/2022, hiện cháu N đang ở với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng. Chị H không có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh M không tham gia tố tụng, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh M về nội dung khởi kiện của chị H. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho anh M biết. Tuy nhiên, đến hôm nay anh M vẫn không có phản đối hay có kiến gì về khởi kiện của chị H.

Qua xác minh cho thấy vợ chồng chị H và anh M mâu thuẩn với nhau và dẫn đến ly hôn là do anh M không lo làm ăn, tham gia cờ bạc; vợ chồng đã sống ly thân. Vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2022 hiện ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử

3

vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định, Thư ký phiên tòa thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai, nên xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao con cho nguyên đơn nuôi là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:

[1] Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung, yêu cầu tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và Khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[4] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Lưu Công M kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước vào năm 2011. Trong cuộc sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Theo chị H trình bày và qua xác minh thì nguyên nhân của việc mâu thuẩn là do anh M không quan tâm gia đình, vợ con; đi làm không đưa tiền về lo gia đình, mà ăn chơi. Từ đó vợ chồng nhiều lần ly thân, dẫn đến không còn tình cảm; hiện vợ chồng đã ly thân; chị H quyết định ly hôn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

4

[5] Về tranh chấp nuôi con: Chị H và anh M có 01 con chung sinh năm 2022, cháu hiện chưa đủ 02 tuổi và đang sống cùng chị H. Xét thấy chị H có sức khỏe, công việc và thu nhập đảm bảo cho việc nuôi con tốt, nên giao cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[8] Về kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Tuyên bố: Chị Bùi Thị H ly hôn anh Lưu Công M.
  2. Về nuôi con: Giao cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi con: Lưu Bùi Yến N, sinh ngày 31/7/2022. Anh Lưu Công M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004282 ngày 18/3/2024. Chị H đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (14/6/2024), bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

5

tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh;
  • -VKSND huyện;
  • -CCTHADS huyện;
  • -Đương sự;
  • -Lưu./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong cuộc sống hôn nhân giữa bà H và ông M không còn hạnh phúc, vì hai bên không còn quan tâm, yêu thương lẫn nhau, nên bà H yêu cầu ly hôn với ông M.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger