|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày: 13 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Tuấn
Ông Nguyễn Quang Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiện Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân thành phố Hà Nội; địa chỉ: Ô đất A-VP, Khu C đường V, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; địa chỉ: đường P, phường X, quận N, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/TLST-HS, ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Tuấn H, sinh năm 1983 tại Hà Nội; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn C (đã chết) và con bà Vũ Thị T, sinh năm 1956; vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm: 1987, có 02 con, con lớn sinh năm: 2008, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: 01 tiền án:
- + Bản án số 80/2020/HSST ngày 30/6/2020 của TAND huyện S, Hà Nội xử phạt 40 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/11/2022.
Nhân thân: Bản án số 90/2011/HSST ngày 24/8/2011 của TAND thị xã PY, Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 17/01/2024, đến ngày 23/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại giam S – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại:
- - Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm: 1995, trú tại: P số nhà A tổ B D, Cầu G, Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa)
- - Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1986, hộ khẩu thường trú: H, T, T, Bắc Ninh; nơi ở: HA02-184 KĐT Vinhome O, D, G. (Vắng mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1987; trú tại: thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 11 giờ ngày 11/01/2024, Ngô Tuấn H nảy sinh ý định đi đập kính xe ô tô để trộm cắp tài sản bên trong xe. H điều khiển xe máy Honda Wave ZX màu đỏ đen, BKS: 29S6-293.25, đeo khẩu trang y tế màu trắng, đội mũ bảo hiểm màu đen chùm kín đầu có kính phía trước, mặc bộ quần áo mưa màu đen đi từ khu vực quận H qua cầu V. Để tránh bị lực lượng Công an phát hiện thì khi qua cầu V, H rẽ vào ngõ gần đó lấy túi nilong màu xanh che biển kiểm soát đồng thời đeo găng tay cao su màu xanh để đi trộm cắp. H đi quanh khu vực G vào những khu dân cư có xe ôtô đỗ ở ngoài đường không có người trông giữ để đập kính lấy tài sản. Khi đi đến khu vực KĐT Vinhomes O thuộc địa phận K, G, Hà Nội thì H thấy có nhiều xe ôtô đỗ ở vệ đường, H nhìn qua kính chắn gió để tìm xem chiếc xe nào có tài sản bên trong thì sẽ dùng tua vít và kìm để đập kính. Tại đây, H phát hiện thấy một chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Eco Sport mang BKS: 30G -765.90 màu nâu của anh Nguyễn Đức T1, sinh năm: 1995; trú tại P số nhà A, tổ B, D, Cầu G, Hà Nội, bên trong có để một chiếc ví cầm tay để ở ghế phụ phía trước bên phải, H cầm tua vít chọc lên thành kính xe ô tô phía trước bên phải để kính rạn nứt rồi vỡ. Sau đó, H thò tay qua cửa lấy ví và mở ví lấy tài sản trong ví nhét vào túi áo mưa mà H đang mặc, lúc này có người dân nhìn thấy thì H bỏ chạy và vứt ví lại trong xe.
Tiếp đến, khoảng 11 giờ 45 phút ngày 11/01/2024, H tiếp tục đi tìm chiếc xe khác để đập kính chiếm đoạt tài sản. Khi đi đến khu vực KĐT Vinhomes O thuộc địa phận D, G, H nhìn thấy một chiếc xe ôtô màu đen Vinfast Lux SA 2.0 mang BKS 99A-390.87 của chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1986; hộ khẩu thường trú: H, T, T, Bắc Ninh; nơi ở: HA02-184 KĐT Vinhome O, D, G. Bên trong xe có một chiếc túi xách không kéo khóa để ở ghế phụ phía trước bên phải, H tiếp tục dùng tua vít chọc lên thành kính xe làm vỡ kính. H kiểm tra túi không thấy có tiền, có một bọc giấy, trong bọc giấy có một số đồ vật trang sức, H không kiểm tra mà lấy tất cả bọc giấy đó cất trong túi áo mưa H đang mặc rồi bỏ chạy. H điều khiển xe bỏ chạy về nhà tại thôn S, T, S, Hà Nội. Khi về đến nhà H kiểm tra số tài sản vừa trộm cắp được thì có khoảng 1.000.000 đồng tiền mặt H cất vào trong ví của H, lúc đó trong ví của H có khoảng 500.000đồng, từ đó đến khi bị bắt H có sử dụng tiền trong ví để tiêu xài cá nhân, đến thời điểm bị bắt công an kiểm tra và thu giữ trong ví của H số tiền 1.187.000đồng. Số trang sức H trộm cắp được thì H lấy giấy ăn tại nhà bọc lại thành ba bọc, để vào trong 01 túi nilong, cất giấu trong cánh tủ lạnh. Đến ngày 17/01/2023 Cơ quan Công an triệu tập H lên để làm việc, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Lời khai nhận của bị cáo Ngô Tuấn H phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra truy xét, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện G đã xác định được Ngô Tuấn H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên và ra Lệnh bắt khẩn cấp đối với H.
Ngày 17/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Tuấn H tại thôn S, T, S, Hà Nội. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra thu giữ:
- - 01 túi nilong màu đỏ bên trong có 03 bọc giấy ăn màu trắng.
- Trong bọc giấy ăn thứ nhất có:
- 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có mặt dây chuyền hình tròn;
- 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng có mặt dây hình vuông;
- 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, trắng, có mặt dây hình chữ nhật.
- Trong bọc giấy ăn thứ hai có:
- 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu trắng, mặt bằng đá hình trái tim;
- 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu trắng có gắn đá trên mặt;
- 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu trắng có gắn đá;
- 01 (một) vòng tay bằng kim loại màu trắng, có 05 viên đá.
- Trong bọc giấy thứ ba có: 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng có mặt dây chuyền bằng đá hình giọt nước màu trắng đục.
Vật chứng thu giữ của Ngô Quốc H1:
- - Số tiền 1.187.000đồng (Một triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
- - 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave ZX màu đỏ đen, BKS: 29S6-293.25, không có gương chiếu hậu, có số khung: RLHHC09075Y012703, số máy HC09E-5036103, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen trùm kín đầu, có kính chắn gió phía trước đã qua sử dụng;
- - 01 (một) bộ quần áo mưa màu xanh tím than đã qua sử dụng;
- - 01 (một) đôi găng tay cao su màu xanh lá cây đã qua sử dụng;
- - 01 (một) tua vít đầu 04 cạnh bằng kim loại, dài 21cm, có chuôi bằng nhựa màu vàng đen đã qua sử dụng;
- - 01 (một) kìm bằng kim loại dài 18cm, có chuôi bằng nhựa màu cam đã qua sử dụng;
Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G kết luận:
* Giá trị tài sản của chị Nguyễn Thị D:
- 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng, trắng, chế tác dạng các hình cầu nối với nhau, mặt dây chuyền kim loại màu vàng, trắng, hình chữ nhật có gắn các viên đá không màu... có giá 25.000.000đồng.
- 01 dây chuyền màu vàng, chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây màu vàng, hình tròn có gắn các viên đá không màu ... có giá 4.500.000đồng.
- 01 dây chuyền màu trắng chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây chuyền kim loại màu trắng, hình vuông có gắn các viên đá không màu ... có giá 17.000.000đồng.
- 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng, chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây chuyền kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu, 04 viên vật liệu màu xanh và 01 viên đá màu trắng đục... có giá 900.000đồng.
- 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu ... có giá 10.000.000đồng.
- 01 vòng tay bằng kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu, 05 viên vật liệu màu xanh và 05 viên đá màu trắng đục ... có giá 1.200.000đồng.
- 01 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu... có giá 4.500.000đồng.
- 01 tấm kính cửa trước phải của xe ô tô Vinfast LUX SA2.0 có giá 1.200.000đồng.
* Giá trị tài sản của anh Nguyễn Đức T1:
- 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, mặt nhẫn hình trái tim có gắn các viên đá không màu ... có giá 4.000.000đồng.
- 01 tấm kính cửa trước phải của xe ô tô Ford Ecosport, BKS: 30G-765.90 có giá 2.100.000đồng.
Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSGL ngày 25 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo Ngô Tuấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến gì khác. Trước khi xét xử, bị cáo cũng đã tác động gia đình nộp nốt số tiền bồi thường cho các bị hại là chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Đức T1 theo yêu cầu của những người bị hại. Người bị hại anh Nguyễn Đức T1 vắng mặt và đề nghị bị cáo H phải bồi thường cho anh số tiền 3.000.000 đồng trong đó gồm 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) tiền kính xe oto và 900.000 đồng tiền đối tượng trộm cắp bên trong xe.
Người bị hại chị Nguyễn Thị D vắng mặt và đề nghị bị cáo H bồi thường số tiền 1.200.000 đồng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị N có đơn trình bày: Chiếc xe máy Honda Wave ZX màu đỏ đen, BKS: 29S6-293.25 có nguồn gốc là tiền của chị. Chị mua xe nhưng cho bị cáo H là chồng đứng tên, chị vẫn thường sử dụng xe để đi làm và đưa đón con đi học. Ngày 11/01/2024, H lấy xe của chị nói là đi có việc, chị không biết H dùng để đi trộm cắp tài sản. Chị đề nghị HĐXX trả lại chị chiếc xe máy để chị có phương tiện đi lại vì hiện tại hoàn cảnh gia đình rất khó khăn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Ngô Tuấn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Ngô Tuấn H.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 Điều 51 (đối với cả hai tội); điểm h khoản 1 Điều 52; điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với tội trộm cắp tài sản); Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Tuấn H mức án từ 26 tháng đến 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Tuấn H mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt đối với hai tội danh trên: Đề nghị xử phạt bị cáo H từ 34 tháng đến 40 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 17/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không.
- Về xử lý vật chứng: Tạm giữ số tiền 1.187.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen trùm kín đầu, có kính chắn gió phía trước đã qua sử dụng; 01 bộ quần áo mưa màu xanh tím than đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay cao su màu xanh lá cây đã qua sử dụng; 01 tua vít đầu 04 cạnh bằng kim loại, dài 21cm, có chuôi bằng nhựa màu vàng đen đã qua sử dụng; 01 kìm bằng kim loại dài 18cm, có chuôi bằng nhựa màu cam đã qua sử dụng;
- Đề nghị trả lại chiếc xe máy Honda Wave ZX màu đỏ đen, BKS: 29S6-293.25, có số khung: RLHHC09075Y012703, số máy HC09E-5036103, không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng cho chị Nguyễn Thị N.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo H phải bồi thường cho anh Nguyễn Đức T1 3.000.000 đồng.
- Đề nghị buộc bị cáo H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị D 1.200.000 đồng.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bị cáo và bị hại đều không có khiếu nại đối với Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về tội danh:
- Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, bản Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố.
- Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 11/01/2024 tại khu đô thị V, thuộc địa phận K, G, Hà Nội, bị cáo Ngô Tuấn H đã có hành vi cầm tua vít chọc lên thành cửa kính phía trước bên phải của xe ô tô Ford Ecosport của anh Nguyễn Đức T1 làm hư hỏng cửa kính thiệt hại 2.100.000đồng, sau đó H trộm cắp trong xe ô tô của anh Nguyễn Đức T1 số tiền 900.000đồng, 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, mặt nhẫn hình trái tim có gắn các viên đá không màu có giá 4.000.000đồng. Giá trị tài sản H trộm cắp của anh T1 là 4.900.000đ.
Tiếp đến, khoảng 11 giờ 45 phút ngày 11/01/2024 tại KĐT V, thuộc địa phận D, G, Hà Nội, bị can Ngô Tuấn H đã có hành vi cầm tua vít chọc lên thành cửa kính phía trước bên phải của xe ô tô Vinfast Lux SA2.0 của chị Nguyễn Thị D làm hư hỏng cửa kính thiệt hại 1.200.000đồng sau đó H trộm cắp tài sản trong xe ô tô của chị Nguyễn Thị D các trang sức kim loại. Giá trị tài sản H trộm cắp của chị D là 63.100.000đồng.
Tổng giá trị tài sản Ngô Tuấn H trộm cắp là 68.000.000đồng.
Tổng giá trị tài sản của anh T1 và chị D bị thiệt hại do hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của bị cáo Ngô Tuấn H gây nên là: 3.300.000đồng.
Hành vi của bị cáo Ngô Tuấn H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
- Viện Kiểm sát nhân dân huyện G đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần nghiêm trị.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Về nhân thân, đối với cả hai tội, bị cáo chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Riêng đối với tội trộm cắp tài sản, bị cáo bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động đến gia đình để khắc phục toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án chưa được xóa án tích. Các tiền án trước của bị cáo đều về cùng một loại tội. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, sửa chữa, thay đổi bản thân mà tiếp tục sa vào con đường phạm tội. Do vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên.
- Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nhân thân của bị cáo, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân bị cáo và về hình phạt đối với bị cáo về cơ bản là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- Về hình phạt bổ sung:
- Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
- Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 1.187.000 đồng thu giữ của bị cáo Ngô Tuấn H là số tiền còn lại sau khi bị cáo trộm cắp để tiêu sài cá nhân. Vì vậy cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 chiếc xe máy Honda Wave ZX màu đỏ đen, BKS: 29S6-293.25, không có gương chiếu hậu của bị cáo sử dụng để làm phương tiện đi thực hiện hành vi trộm cắp nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối 01 mũ bảo hiểm màu đen trùm kín đầu, có kính chắn gió phía trước đã qua sử dụng; 01 bộ quần áo mưa màu xanh tím than đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay cao su màu xanh lá cây đã qua sử dụng; 01 tua vít đầu 04 cạnh bằng kim loại, dài 21cm, có chuôi bằng nhựa màu vàng đen đã qua sử dụng; 01 kìm bằng kim loại dài 18cm, có chuôi bằng nhựa màu cam đã qua sử dụng: Đây là các tài sản của bị cáo H dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cho tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Nguyễn Thị D yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.200.000 đồng, anh Nguyễn Đức T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền khắc phục hậu quả là 3.013.000 đồng vào Cơ quan thi hành án dân sự huyện G, cùng với số tiền tạm giữ tại Cơ quan thi hành án 1.187.000 đồng đã đủ số tiền bị cáo phải bồi thường theo yêu cầu của người bị hại là anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị D.
- Về các vấn đề khác:
- Đối với số trang sức thu giữ được, ngày 12/3/2024 Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trao trả cho chị Nguyễn Thị D: 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng, trắng, chế tác dạng các hình cầu nối với nhau, mặt dây chuyền kim loại màu vàng, trắng, hình chữ nhật có gắn các viên đá không màu; 01 dây chuyền màu vàng, chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây màu vàng, hình tròn có gắn các viên đá không màu; 01 dây chuyền màu trắng chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây chuyền kim loại màu trắng, hình vuông có gắn các viên đá không màu; 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng, chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mặt dây chuyền kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu, 04 viên vật liệu màu xanh và 01 viên đá màu trắng đục; 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu; 01 vòng tay bằng kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu, 05 viên vật liệu màu xanh và 05 viên đá màu trắng đục; 01 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng có gắn các viên đá không màu. Trao trả cho anh Nguyễn Đức T1: 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, mặt nhẫn hình trái tim có gắn các viên đá không màu. Chị D và anh T1 đã nhận lại các tài sản trên và không có yêu cầu, đề nghị gì. Việc trao trả những trang sức trên cho anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị D là đúng quy định pháp luật.
- Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự và về các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- Về án phí:
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn H phạm tội Trộm cắp tài sản và tội Hủy hoại tài sản
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 khoản Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với tội Trộm cắp tài sản); Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn H 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt đối với cả hai tội, buộc bị cáo Ngô Tuấn H phải chấp hành 32 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 17/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Ngô Tuấn H phải trả cho chị Nguyễn Thị D số tiền 1.200.000 đồng, trả cho anh Nguyễn Đức T1 số tiền 3.000.0000 đồng. Đối trừ với số tiền gia đình bị cáo đã nộp 3.013.000 đồng và số tiền 1.187.000 đồng thu giữ của bị cáo thì vừa đủ số tiền bị cáo phải trả cho những người bị hại.
(số tiền trên hiện có tại Chi cục Thi hành án huyện G theo biên lai thu tiền số 3897 ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Biên lai thu tiền số 3864 ngày 28 tháng 3 năm 2024)
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại chị Nguyễn Thị N 01 chiếc xe máy Honda Wave ZX màu đỏ đen, BKS: 29S6-293.25, không có gương chiếu hậu, có số khung: RLHHC09075Y012703, số máy HC09E-5036103
- Tạm giữ của bị cáo số tiền 1.187.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
(Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G theo Biên lai nộp tiền kí hiệu BLTT/23 số 0003864 ngày 28 tháng 3 năm 2024).
- Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen trùm kín đầu, có kính chắn gió phía trước đã qua sử dụng; 01 bộ quần áo mưa màu xanh tím than đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay cao su màu xanh lá cây đã qua sử dụng; 01 tua vít đầu 04 cạnh bằng kim loại, dài 21cm, có chuôi bằng nhựa màu vàng đen đã qua sử dụng; 01 kìm bằng kim loại dài 18cm, có chuôi bằng nhựa màu cam đã qua sử dụng.
(Toàn bộ số vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 29/03/2024).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Tuấn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Ngân |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSST. Ngô Tuấn Hưng
