|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2024/DS-ST | |
| Ngày 12 tháng 9 năm 2024 | |
| V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thuỷ
Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc
-Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Bà Phạm Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 141/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T. Địa chỉ: Tầng A và Tầng B, Tòa nhà Trung tâm Thương mại S, số C T, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông C J - Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Xuân H, sinh năm 2002 và ông Hoàng Văn Đ, sinh năm: 1994, địa chỉ: H N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền số 2A/2024/GUQ-TGĐ của Tổng Giám đốc Công ty T, Giấy uỷ quyền số 13/2024/GUQ-KK-SVFC ngày 21/6/2024 của Giám đốc khối thu hồi nợ Công ty T và Giấy ủy quyền số 09/UQ2024 ngày 21/6/2024 của Giám đốc Công ty L). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Diệp Bảo H1, sinh năm: 1994, địa chỉ: Kiệt C L, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đại diện Công ty T trình bày:
Vào ngày 12/05/2020, ông Diệp Bảo H1 có ký với Công ty T Hợp đồng cho vay số [...]. Công ty đã giải ngân số tiền: 75.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích mua phương tiện đi lại, vay tín chấp, lãi suất áp dụng 32%/năm và được Công ty quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định Ngân hàng N về lãi suất cho vay, số kỳ thanh toán chia làm 48 kỳ vào ngày 10 hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 2.785.776 đồng, thời hạn cho vay tính từ ngày giải ngân và kết thúc tại thời điểm bên vay trả hết nợ. Công ty đã giải ngân cho ông H1 số tiền 75.000.000 đồng.
Căn cứ theo các quy định của Hợp đồng, ông Diệp Bảo H1 có nghĩa vụ phải thanh toán đúng tiến độ theo lịch trả nợ và lịch trả nợ điều chỉnh và các thông báo nhắc nợ mà Công ty gửi tùy từng thời điểm. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bắt đầu từ tháng 02 năm 2024 ông Diệp Bảo H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Mặc dù Công ty đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho ông H1 thanh toán nhưng ông H1 vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên tòa Công ty yêu cầu Tòa án buộc ông Diệp Bảo H1 trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 12/9/2024 là 181.939.092 đồng, trong đó: nợ gốc: 68.965.260 đồng, nợ lãi trong hạn: 45.251.836 đồng, lãi quá hạn: 56.554.780 đồng, lãi chậm trả quá hạn 11.167.215 đồng. Ông Diệp Bảo H1 có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 13/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
- Bị đơn ông Diệp Bảo H1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông vẫn vắng mặt, không có ý kiến phản hồi.
-Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử và tại các phiên toà là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty T là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty, buộc ông Diệp Bảo H1 phải thanh toán cho Công ty số tiền tính đến ngày 12/9/2024 là 181.939.092 đồng, trong đó: nợ gốc: 68.965.260 đồng, nợ lãi trong hạn: 45.251.836 đồng, lãi quá hạn: 56.554.780 đồng, lãi chậm trả quá hạn 11.167.215 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Ông Diệp Bảo H1 đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử vắng bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Căn cứ Hợp đồng cho vay số [...] ngày 12/5/2020, Bản điều khoản cơ bản, cam kết nhận khoản vay và yêu cầu giải ngân, lịch trả nợ, lịch sử thanh toán, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì đủ cơ sở xác định ông Diệp Bảo H1 có vay của Công ty T số tiền 75.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích mua phương tiện đi lại, loại hình vay tín chấp không có tài sản bảo đảm, lãi suất trong hạn áp dụng 32%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, số kỳ thanh toán chia làm 48 kỳ vào ngày 10 hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 2.785.776 đồng, thời hạn cho vay tính từ ngày giải ngân và kết thúc tại thời điểm bên vay trả hết nợ. Xét thấy rằng việc ký kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật liên quan.
[2.2]. Ông Diệp Bảo H1 đã được Công ty giải ngân số tiền 75.000.000 đồng vào ngày 12/5/2020. Từ khi vay cho đến nay, ông Diệp Bảo H1 đã thanh toán được 07 kỳ với số tiền 19.574.000 đồng. Kể từ tháng 2 năm 2021 ông Diệp Bảo H1 bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc ông Diệp B hiếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn vi phạm cam kết thanh toán giữa các bên trong Hợp đồng cho vay, do đó hết thời hạn cho vay vào tháng 5 năm 2024, Công ty đã khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ là có căn cứ theo quy định tại Hợp đồng và Luật các tổ chức tín dụng.
[2.3]. Tại phiên tòa, Công ty T yêu cầu Tòa án buộc ông Diệp Bảo H1 phải thanh toán toàn bộ số tiền tính đến ngày 12/9/2024 là 181.939.092 đồng, trong đó: nợ gốc: 68.965.260 đồng, nợ lãi trong hạn: 45.251.836 đồng, lãi quá hạn: 56.554.780 đồng, lãi chậm trả quá hạn 11.167.215 đồng, ông H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 13/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn Công ty T là có căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự, Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí tranh chấp dân sự có giá ngạch trên số tiền phải trả là 181.939.092 đồng x 5% = 9.096.954 đồng, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 100, 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;
- - Điều 280 Bộ luật Dân sự;
- - Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty T đối với ông Diệp Bảo H1.
1. Buộc ông Diệp Bảo H1 phải thanh toán cho Công ty T số tiền 181.939.092 đồng (Một trăm tám mươi mốt triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn, không trăm chín mươi hai đồng). Trong đó:
- Nợ gốc: 68.965.260 đồng;
- Nợ lãi trong hạn 45.251.836 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 56.554.780 đồng;
- Lãi chậm trả quá hạn 11.167.215 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số [...] ngày 12/5/2020. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Diệp Bảo H1 phải chịu 9.096.954 đồng (Chín triệu, không trăm chín mươi sáu nghìn, chín trăm năm mươi bốn đồng).
Công ty T không chịu án phí, hoàn trả cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí 4.303.778 đồng (Bốn triệu, ba trăm lẻ ba nghìn, bảy trăm bảy mươi tám đồng) Công ty T đã nộp theo biên lai thu số: 0002758 ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 69/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 69/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa công ty S và ông H
