|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 7 - 2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân
và gia đình - Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Phan Thị Nhã Quyên |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Phạm Phước Tâm |
| 2. Ông Trần Văn Bé Hai |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trí – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1978
- Địa chỉ: tổ B, ấp D, xã B, huyện C, Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1977
- Địa chỉ: tổ B, ấp D, xã B, huyện C, Đồng Tháp.
(Bà Đ và ông N có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn N chung sống từ năm 1996 nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc có 02 con chung, thời gian sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bà Đ thừa nhận không còn tình cảm với ông N, không muốn tiếp tục chung sống với ông N. Nhận thấy cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc, tình cảm rạn nứt không thể hàn gắn. Hiện nay ai cũng có cuộc sống riêng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà Đ yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn N.
- Về con chung: Bà Đ với ông N có 02 con chung tên Phạm Thanh D, sinh ngày 24/3/1999 và Phạm Thanh Q, sinh ngày 20/12/2000. Hiện các con đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên bà Đ không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn Ông Phạm Văn N trình bày:
- Về hôn nhân: vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1996, có đăng ký kết hôn nhưng không nhớ rõ năm nào, nhưng độ khoảng từ năm 1998 đến năm 2002. Ông N không có cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho Tòa án do đã để thất lạc. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, xảy ra nhiều mâu thuẩn nên đã không còn sống chung. Nay bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông N đồng ý.
- Về con chung: Bà Đ với ông N có 02 con chung tên Phạm Thanh D, sinh ngày 24/3/1999 và Phạm Thanh Q, sinh ngày 20/12/2000. Hiện các con đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên ông N không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đầy đủ và đúng quy định pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án: Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và thực trạng hôn nhân của bà Đ và ông N, đề nghị Tòa án căn cứ Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn N. Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản không đặt ra xem xét giải quyết do đương sự không có yêu cầu.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp:
- Căn cước công dân của bà Đ (bản photo);
- Giấy khai sinh của Phạm Thanh D và Phạm Thanh Q (bản sao).
Bị đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu được ly hôn ông Phạm Văn N nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn”.
[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nuôi con giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại xã B, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn N chung sống từ năm 1996. Ông N khai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, tuy nhiên để thất lạc Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, cả bà Đ và ông N không cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho Tòa án. Kết quả xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân xã B thì từ năm 1998 đến năm 2002 bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn N không có đăng ký kết hôn, do đó không có cơ sở để xác định bà Đ và ông N đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B.
Theo quy định tại các Điều 5, Điều 6, Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 9, Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông N không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Trong quá trình chung sống, bà Đ và ông N không xây dựng được hạnh phúc gia đình và ông bà không còn sống chung với nhau nên bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông N, ông N cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Đ. Tuy nhiên, do bà Đ và ông N sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, nên Hội đồng xét xử không xem xét việc yêu cầu xin ly hôn của bà Đ. Bởi lẽ, tại khoản 1 Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Nam, nhữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, không công nhận bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn N là vợ chồng.
- Về con chung: Bà Đ với ông N có 02 con chung tên Phạm Thanh D, sinh ngày 24/3/1999 và Phạm Thanh Q, sinh ngày 20/12/2000. Hiện các con đã trưởng thành, có khả năng lao động sinh sống được, bà Đ ông N không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Đ và ông N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008432 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
[5] Xét ý kiến phát biểu của kiểm sát viên phù hợp với các nhận định trên nên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 71, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Đ và ông Phạm Văn N là vợ chồng.
- Về con chung: Bà Đ với ông N có 02 con chung tên Phạm Thanh D, sinh ngày 24/3/1999 và Phạm Thanh Q, sinh ngày 20/12/2000. Hiện các con đã trưởng thành, có khả năng lao động sinh sống được, bà Đ ông N không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Đ và ông N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008432 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Phan Thị Nhã Quyên |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
