Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày: 11-07-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Cao Thị Tuyết Mai.
  2. Bà Võ Thanh Nga.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/TLST-HS ngày 13 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn P; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988 tại Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ú và bà Lâm Ngọc Á, tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2019, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian chấp hành là 21 tháng (Quyết định số 47/2019/QĐ-TA ngày 19/07/2019). Chấp hành xong ngày 06/12/2020 (Giấy chứng nhận số 718/GCN-CS3 ngày 27/11/2020).

Bắt tạm giam ngày 31/12/2023 “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Tấn P là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, Nguyễn Tấn P điều khiển xe gắn máy biển số 69E1-008.67 chở Hứa Thị Bé T (là người chung sống như vợ chồng) đi chơi lễ và ăn uống. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Tấn P đã chở Hứa Thị Bé T đến hẻm Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Nguyễn Tấn P gặp Nguyễn Ngọc H và người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đang ngồi gần nhau. Nguyễn Tấn P dùng 03 ngón tay phải giơ lên để ra hiệu mua 03 tép ma túy loại Heroin và đưa 300.000 đồng. Nguyễn Ngọc H nhận tiền rồi người đàn ông ngồi kế bên đưa cho Nguyễn Tấn P 03 đoạn ống nhựa, bên trong chứa ma túy. Sau khi nhận ma túy, Nguyễn Tấn P cất giấu vào túi áo mưa bên trái màu đỏ đang mặc rồi điều khiển xe gắn máy biển số 69E1-008.67 chở Hứa Thị Bé T đến quán bún mắm tại địa chỉ B Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đang ăn thì Nguyễn Tấn P bị Cơ quan Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra phát hiện bắt quả tang, lập biên bản thu giữ vật chứng rồi đưa về trụ sở để điều tra làm rõ. Kết quả xét nghiệm ma túy, Nguyễn Tấn P dương tính với ma túy, còn Hứa Thị Bé T âm tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 702/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2586 g (không phẩy hai năm tám sáu gam) loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Cáo trạng số 80/CT-VKS Q.4 ngày 11/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo Nguyễn Tấn P thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam và miễn hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tấn P, Hứa Thị Bé T, chữ ký của Điều tra viên và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; Trả lại Nguyễn Tấn P 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, model TA-1174, bên trong có sim số 0933688806, đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, tại số B Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ Tuần tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Tấn P cất giấu 0,2586 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với Nguyễn Ngọc H là người do bị cáo khai đã bán ma túy tại hẻm Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đã bị Cơ quan điều tra Công an Thành phố H khởi tố và tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong đó có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Tấn P. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với người đàn ông đưa ma túy cho Nguyễn Tấn P, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với Hứa Thị Bé T, quá trình điều tra xác định không biết, không tham gia mua ma túy, không liên quan đến số ma túy mà Nguyễn Tấn P cất giữ nên không có cơ sở để xử lý.

[3] Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.

[4] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Tấn P không có tiền án, không có tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Cụ thể như sau: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian chấp hành là 21 tháng vào năm 2019. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Thu giữ của Nguyễn Tấn P 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tấn P, Hứa Thị Bé T, chữ ký của Điều tra viên và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét, đây là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Thu giữ của Nguyễn Tấn P 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, model TA-1174, bên trong có sim số 0933688806, đã qua sử dụng. Xét, đây là tài sản cá nhân nên trả lại cho bị cáo.
  • - Thu giữ của Nguyễn Tấn P 01 (một) xe gắn máy hiệu Attila, màu nâu, biển số 69E1-008.67, số khung RLGKA12MDBD006965, số máy VMVT3D006965, đã qua sử dụng. Tại Phiếu trả lời xác minh xe của Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh thì xe gắn máy trên do bà Nguyễn Ngọc B đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định bà Nguyễn Ngọc B đã mua xe gắn máy trên vào khoảng năm 2010-2011 và đã cho Nguyễn Tấn P mượn xe để làm phương tiện đi lại kiếm tiền mưu sinh. Do bà Nguyễn Ngọc B không biết và không liên quan đến việc Nguyễn Tấn P sử dụng xe gắn máy đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại xe cho bà Nguyễn Ngọc B. Bà Nguyễn Ngọc B đã nhận lại xe gắn máy biển số 69E1-008.67 và không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Nguyễn Tấn P, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 12 năm 2023.

  2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tấn P, Hứa Thị Bé T, chữ ký của Điều tra viên và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

    Trả lại Nguyễn Tấn P 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, model TA-1174, bên trong có sim số 0933688806, đã qua sử dụng.

    (Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 89/2024 ngày 02/07/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:

    Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

  4. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021:

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - CA TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Công An Quận 4;
  • - Trại tạm giam CATP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đoàn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Tan P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger