Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày 09-5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thúy An - Thư ký Toà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 334/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Tống Ngọc Q, sinh ngày 03 tháng 6 năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Hải T và bà Nguyễn Thị N; có chồng là: Cao Văn K và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 20/02/2024; có mặt.

- Bị hại: Công ty T1; địa chỉ: Số C B T, phường S, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Furusawa Y - Tổng Giám đốc; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Vũ Hồng Q1, sinh năm 1996; đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ G, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: Số A T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/12/2023, Tống Ngọc Q đi cùng hai cháu là Cao Tâm N1 và Cao Đức Q2 đến Trung tâm bách hóa tổng hợp và siêu thị A, Hải Phòng (gọi tắt là siêu thị A) để mua sắm. Tại đây, Q quan sát thấy các gian hàng không có người trông coi nên Q đã nảy sinh ý định trộm cắp các sản phẩm hàng hóa của siêu thị A. Q vào gian hàng thực phẩm ở tầng 1 của siêu thị mua 01 nước sốt mè rang, 01 hộp cơm rang sẵn, 01 hộp đùi gà quay, 01 sữa rửa mặt Pon's, 01 hộp kẹo Ben to, lươn nướng ½ con, sashimi mix rồi thanh toán để trong các túi nilon màu trắng có quấn tem “ đã thanh toán”. Q tiếp tục đến các quầy hàng tại tầng 1 và tầng 2 lấy trộm 33 sản phẩm hàng hóa gồm: 01 vị Thạch đào TARAMI PEACHJELLY 150G; 03 gói xúc xích GOLD CP 40Gx5; 02 Kem N. mùi Dove DRY SERUM COLAGEN VITA; 01 Cơm chiên kim chi; 01 Khay gà bọng quay; 01 xúc xích PONNIE Thịt phomai 45g; 01 Nước ép trái cây dâu tây tinh khiết; 01 Lotion dưỡng da hàng ngày cho nam; 01 vỉ Thạch nho dạng túi đứng ORIHIRO 130G; GEL dưỡng da cho nam ALL IN ONE 110G; 01 Hộp Gà xé lá chanh DOXACO 400G; 01 Thạch vị Nho - TARAMI PEACHJELLY; 01 LL khuyên tai 37; 01 Thịt hộp BRISTOLL COOKED HAM 325G; 01 nước Hồng trà vị Táo; 01 quần suông nỉ bông; 01 áo GHILE len mở cúc; 01 áo khoác sơ mi lửng; 01 áo khoác dạ nữ BOMBER; 01 áo phao lông vũ có mũ VNDW 02; 02 áo gió in chữ BT; 01 Áo khoác CADIGAN - len; 01 áo phao lông vũ VNDW 03; 01 khăn đi biển - SCARF/24; 01 áo HOODIE phối màu teen BT; 01 áo DT xốp trơn; 01 PP- cài 35PKKT79; 01 PP - băng dô 35PKT79; 01 son dưỡng ẩm NEVIA 4,8 g; 01 VASELILE sáp dưỡng môi bơ ca cao 4,8 g; 02 SF móc khóa hình giầy; 01 nón len HAT01; 02 kẹo singgum hubba hubba vị dâu tây. Các sản phẩm đã lấy tại các quầy Quỳnh cho vào trong túi nilon màu trắng đã dán tem “đã thanh toán”. Sau khi lấy xong các sản phẩm cho vào xe đẩy, Q đợi vắng người qua lại rồi đẩy xe hàng không qua cửa thanh toán mà đi thẳng ra cửa số 09 đến bãi gửi xe thì bị nhân viên an ninh siêu thị bắt quả tang cùng tang vật và bàn giao cho Công an phường K biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 15/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận L kết luận: Giá trị của các tài sản hàng hóa Tống Ngọc Q trộm cắp được là 5.785.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Tống Ngọc Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Quyết định truy tố số 03/QĐTTRG-VKSLC ngày 24/4/2024 Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Tống Ngọc Q phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung quyết định truy tố, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng người đại diện hợp pháp của bị hại tại Cơ quan điều tra, anh Vũ Hồng Q1 trình bày: Hồi 20 giờ 50 phút ngày 30/12/2023, sau khi nhận thông tin từ bộ phận an ninh về việc có một nữ giới có hành vi trộm cắp tài sản (hàng hóa) của Trung tâm thương mại A1. Anh Q1 đã có mặt tại bộ phận an ninh xác nhận sự việc và báo Công an phường K đến đưa nữ giới có tên Tống Ngọc Q về trụ sở lập biên bản giải quyết. Trung tâm thương mại A1 đã nhận lại toàn bộ tài sản do Tống Ngọc Q trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Tống Ngọc Q và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Tống Ngọc Q mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 18 đến 24 tháng.

Do bị cáo có thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH A2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 33 sản phẩm do bị cáo cưỡng đoạt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty TNHH A2. (Quyết định xử lý vật chứng số 350 ngày 20/02/2024).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn: Bị cáo bị bắt quả tang sau đang thực hiện hành vi phạm tội; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm bị cáo thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng và người phạm tội có nơi cư trú rõ ràng, lý lịch rõ ràng. Do vậy, vụ án có đủ điều kiện tiến hành theo thủ tục rút gọn quy định tại Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa và trên cơ sở quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Về tội danh:

[4] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Tống Ngọc Q đã có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của Công ty TNHH A2 với tổng giá trị 5.785.000 đồng nên hành vi của bị cáo thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội gây thiệt hại không lớn. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[8] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, vì vậy không cần thiết phải bắt cách ly khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[9] Do bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập của bị cáo không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[10] Công ty TNHH A2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Không có vật chứng cần xử lý.

- Về án phí:

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[12] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: T (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Tống Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự

Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND Quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận Lê Chân;
  • - UBND xã Đồng Thái, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.Lê Chân;
  • - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tống Ngọc Q Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger