TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08-7-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trương Ngọc Điệp
- Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2023/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Văn Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ tạm trú: nhà trọ Phạm Thị N, số B đường P, Tổ D, Khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1978; địa chỉ thường trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ tạm trú: nhà trọ Phạm Thị N, số B đường P, Tổ D, Khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2024, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Văn Thị H trình bày: Bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) M, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/02/2003.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên to tiếng, cãi nhau. Bà Văn Thị H đã nhẫn nhịn, chịu đựng một thời gian dài, tìm nhiều phương cách hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, cố gắng giữ gìn hạnh phúc gia đình vì 02 con nhưng không có kết quả. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Văn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Văn H1.
- Về con chung: bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 có 02 con chung tên Lê Thị H2, sinh ngày 09/01/2005 và Lê Thị N1, sinh ngày 23/02/2012. Sau khi ly hôn, bà Văn Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con tên Lê Thị N1, cháu Lê Thị H2 đã trên 18 tuổi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về cấp dưỡng nuôi con: bà Văn Thị H không yêu cầu ông Lê Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
Ngày 20/6/2024 nguyên đơn bà Văn Thị H nộp đơn yêu cầu xét xử vụ án vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: mâu thuẫn trong hôn nhân giữa bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 đã trầm trọng, không thể hàn gắn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Văn Thị H.
Về con chung: cháu Lê Thị Ngọc s ngày 23/02/2012 có nguyện vọng được sống với bà H, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không tranh chấp, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa:
Theo kết quả xác minh ngày 07/5/2024 của Tòa án, Công an phường H, thành phố T cung cấp thông tin: ông Lê Văn H1 có đăng ký tạm trú và hiện đang cư trú tại nhà trọ Phạm Thị N, số B đường P, Tổ D, khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ ông Lê Văn H1 tham gia làm việc, hòa giải vào các ngày 23/4/2024, ngày 22/5/2024 và ngày 27/5/2024, tham gia phiên tòa vào ngày 19/6/2024 và ngày 08/7/2024 nhưng ông Lê Văn H1 vắng mặt không có lý do. Bà Văn Thị H có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự cùng những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt ông Lê Văn H1, bà Văn Thị H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) M, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa.
Bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau.
Tòa án đã thông báo và triệu tập ông Lê Văn H1 tham gia các phiên hòa giải nhằm giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn hạnh phúc gia đình giữa ông H1 và bà H nhưng ông H1 không tham gia tố tụng. Như vậy, ông H1 đã không quan tâm đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình với bà H và đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình tại Tòa án.
Tại biên bản xác minh ngày 07/5/2024, Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T cung cấp thông tin: Trong thời gian sinh sống tại địa phương, bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 không yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết, hòa giải khi có mâu thuẫn gia đình nên Ủy bản nhân dân phường H không biết bà H và ông H1 có mâu thuẫn như thế nào trong hôn nhân.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 đã trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Văn Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn H1 có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 có 02 con chung tên Lê Thị H2, sinh ngày 09/01/2005 và Lê Thị N1, sinh ngày 23/02/2012. Lê Thị H2 đã trên 18 tuổi có sức khỏe và tinh thần phát triển bình thường. Bà Văn Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con tên Lê Thị N1.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 31/5/2024, cháu Lê Thị N1 có nguyện vọng được sinh sống cùng với mẹ. Yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà H không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà Văn Thị H không yêu cầu ông Lê Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: bà Văn Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Văn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 228, 238, 273 và Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 19, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 86 của Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Văn Thị H đối với bị đơn ông Lê Văn H1 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Văn Thị H được ly hôn với ông Lê Văn H1.
- Về con chung: bà Văn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị N1, sinh ngày 23/2/2012.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà Văn Thị H không yêu cầu ông Lê Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Văn Thị H và ông Lê Văn H1 đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, ông Lê Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Lê Văn H1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Văn Thị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Văn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0002254, ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
- Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Lan Hương |
Thành viên hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Lan Hương |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Văn Thị H ly hôn ông Lê Văn H
