Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08/5/2024.

Về việc: “T/c về ly hôn; nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Thành Tuấn;
  2. Ông Nguyễn Nhựt Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Thành C, sinh năm 1981;
  2. Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, An Giang.

  3. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thúy H, sinh năm 1982;
  4. Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, An Giang.

(Vắng mặt bị đơn bà Huỳnh Thị Thúy H; đã tống đạt hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thành C và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Ông Trần Thành C sống chung với bà Huỳnh Thị Thúy H từ năm 2005, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, An Giang (giấy đăng ký kết hôn số 57 ngày 20/6/2013). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong tình cảm vợ chồng, thường xuyên hay cãi nhau và bà Huỳnh Thị Thúy H không quan tâm chồng con nên vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Trần Thị Thúy N sinh ngày 18/3/2006 và Trần Thị Thúy N1 sinh ngày 22/8/2008, hiện tại 02 con đang sống chung với ông Trần Thành C.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Trần Thành C yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị Thúy H; về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu bà Huỳnh Thị Thúy H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản thì tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Về phía bị đơn bà Huỳnh Thị Thúy H thì: Toà án đã nhiều lần gửi thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng bà Huỳnh Thị Thúy H đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì bà Huỳnh Thị Thúy H có nơi cư trú tại ấp V, xã V, huyện C, An Giang; hiện tại bà Huỳnh Thị Thúy H không thường xuyên có ở địa phương, giấy tờ của Tòa án giao gia đình vẫn nhận nhưng không ký nhận nên Tòa án đã thông qua Thừa phát 1 thực hiện các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về xin ly hôn và nuôi con chung, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn bà Huỳnh Thị Thúy H vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Thành C đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với bà Huỳnh Thị Thúy H từ năm 2005 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên ông Trần Thành C xin được ly hôn với bà Huỳnh Thị Thúy H. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Thành C và bà Huỳnh Thị Thúy H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án nhiều lần mời bà Huỳnh Thị Thúy H để hòa giải cho ông bà đoàn tụ nhưng bà H không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, vẫn không có mặt. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa ông C, bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thành C là được ly hôn với bà Huỳnh Thị Thúy H.

[3] Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Ông Trần Thành C thừa nhận 02 cháu Trần Thị Thúy N sinh ngày 18/3/2006 và Trần Thị Thúy N1 sinh ngày 22/8/2008 là con chung của ông và bà Huỳnh Thị Thúy H, giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện điều này; do đó cần công nhận các cháu là con chung của ông C và bà H, đồng thời phía ông Trần Thành C yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, từ khi ông C và bà H không còn sống chung nữa thì các cháu đã sống chung với ông Trần Thành C đến nay và nguyện vọng của các cháu muốn sống chung với ông C để thuận tiện và ổn định trong công việc, đồng thời phía bà Huỳnh Thị Thúy H cũng không có ý kiến; do đó, để ổn định tâm lý và cuộc sống cho các cháu nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thành C là giao 02 cháu Trần Thị Thúy N và Trần Thị Thúy N1 cho ông Trần Thành C tiếp tục nuôi dưỡng. Ngoài ra, phía ông Trần Thành C không yêu cầu bà Huỳnh Thị Thúy H cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

[4] Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do ông Trần Thành C có yêu cầu ly hôn với bà Huỳnh Thị Thúy H nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thành C là được ly hôn với bà Huỳnh Thị Thúy H.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận 02 cháu Trần Thị Thúy N sinh ngày 18/3/2006 và Trần Thị Thúy N1 sinh ngày 22/8/2008 là con chung của ông Trần Thành C và bà Huỳnh Thị Thúy H;

+ Giao 02 cháu Trần Thị Thúy N và Trần Thị Thúy N1 cho ông Trần Thành C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (hiện các cháu đang sống chung với ông C); bà Huỳnh Thị Thúy H không phải cấp dưỡng nuôi con cho ông Trần Thành C, do không có yêu cầu.

+ Ông Trần Thành C cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Huỳnh Thị Thúy H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

* Về quan hệ tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận.

* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Ông Trần Thành C phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo Biên lai thu số 0004463 ngày 05/02/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang; được khấu trừ nên ông Trần Thành C đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho ông Trần Thành C có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bà Huỳnh Thị Thúy H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Vĩnh Nhuận;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hồ Hoàng Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn; nuôi con chung

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn; nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Công xin ly hôn với chị Hằng; yêu cầu nuôi con và không cấp dưỡng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger