Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 69/2024/DS-PT

Ngày: 07-08-2024

"V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng
  • Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu và Ông Nguyễn Minh Tân.
  • Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 29/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 05 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST, ngày 28-3-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 66/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 06 năm 2024; các Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐ-PT ngày 17/7/2024 và số 71/2024/QĐ-PT ngày 01/08/2024, giữa:

  • Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
  • Bị đơn: Bà Nguyễn Bích H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số B phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Ông Lương Anh Đ, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số B phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
    • + Ông Vũ Đức H2, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Lương Anh Đ1): Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1980. Địa chỉ: 1 T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Bích H1 - là bị đơn.

Tại phiên tòa có mặt bà H1, ông T, bà D, ông H. Vắng mặt ông H2, ông Đ1.

4. Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án Dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST, ngày 28-3-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:

Nguyên đơn bà Trần Thị D và người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Văn H thống nhất trình bày: Do quen biết từ trước, bà Nguyễn Bích H1 đã vay, trả bà D tiền nhiều lần. Ngày 29/9/2020 (âm lịch) bà H1 vay của bà D số tiền 11 tỷ đồng để đầu tư kinh doanh, sau nhiều lần thanh toán, hai bên chốt nợ vào ngày 30/12/2020 (âm lịch) bằng giấy vay tiền với nội dung bà H1 vay bà D số tiền 7.600.000.000₫ (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng) mục đích vay để kinh doanh, thời hạn vay 30 ngày. Đến nay đã quá hạn hơn 2 năm, mặc dù bà H1 có điều kiện trả nhưng vẫn cố tình không trả cho bà D số tiền trên. Do đó, bà D khởi kiện đề nghị tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Bích H1 trả bà D số tiền nợ gốc 7.600.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 30/12/2020 (âm lịch) đến ngày nộp đơn ra Tòa án là: (7.600.000.000 x 0,6%/ 1 tháng x 28 tháng) = 1.276.800.000đ. Tổng cộng gốc và lãi là 8.876.800.000 đồng.

Sau đó, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày do trước đây có sự nhầm lẫn trong việc xác định tiền nợ gốc và cách tính lãi, nên phía nguyên đơn thay đổi, bổ sung về yêu cầu bị đơn trả gốc và lãi như sau: Ngày 14/11/2020 Dương lịch (29/9/2020 âm lịch) bà H1 đã vay của bà D 11 tỷ để đầu tư kinh doanh, trong giấy vay này không ghi lãi suất và thời hạn trả nợ. Tuy nhiên, hai bên thỏa thuận miệng và tính toán với nhau với lãi suất 900 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày được thể hiện trên các chứng từ thanh toán hàng tháng và các văn bản giải trình của nguyên đơn. Sau nhiều lần thanh toán, cụ thể vào các ngày: Ngày 02/10/2020 trả 700.000.000 đồng; ngày 11/10/2020 trả 2.300.000.000 đồng; ngày 05/11/2020 trả 200.000.000 đồng; ngày 17/11/2020 trả 250.000.000 đồng; ngày 17/12/2020 trả 1.500.000.000 đồng. Đến ngày 30/12/2020 âm lịch (tức ngày 11/02/2021 dương lịch) hai bên đã chốt nợ với nhau, theo đó bà H1 còn nợ bà D số tiền 7. 600.000.000 triệu đồng. Số tiền này bao gồm tiền gốc còn phải trả, tiền lãi của khoản tiền vay 11 tỷ và tiền lãi họ 450.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà H1 chưa thanh toán tiền lãi, nên nguyên đơn đề nghị tính lãi trên dư nợ gốc là 1,66%/ 1 tháng.

tháng. Bà D xác định việc vay nợ, làm ăn kinh tế chủ yếu là do bà và bà H1 trực tiếp giao dịch, thỉnh thoảng nếu bận công việc thì bà D nhờ chồng là ông Vũ Đức H2 đưa và nhận hộ tiền. Vì vậy, đề nghị tòa án xác định ông Vũ Đức H2 chỉ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

Ông Vũ Đức H2 trình bày: Thống nhất với bà D về việc cho bà H1 vay tiền. Việc kinh doanh trong nhà là chủ yếu do vợ ông điều hành và nắm kinh tế, ông chỉ phụ giúp ghi sổ sách, chuyển và nhận tiền của khách hàng. Nay ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của vợ ông yêu cầu bà H1 trả số tiền nợ gốc và lãi nêu trên.

Bà Nguyễn Bích H1 và người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà và vợ chồng bà D ông H2 có mối quan hệ bạn bè thân thiết từ lâu và cũng là bạn làm ăn, hai bên thường xuyên vay mượn qua lại với nhau. Đầu tháng 8/2020, bà H1 vay của bà D, ông H2 11 tỷ đồng mục đích để góp vốn làm ăn với bà Phùng Thị N ở Thành phố Hồ Chí Minh, hai bên không viết giấy vay, không thống nhất lãi suất; khi vay tiền bà H1 cũng không nói cho ai trong gia đình biết và xác định đây là tiền vay riêng. Khi biết bà H1 vay tiền để làm ăn riêng, bà D yêu cầu bà H1 viết giấy biên nhận vay nợ 11 tỷ đồng vào ngày 29/9/2020, trong giấy vay cũng không thỏa thuận lãi suất, không ghi rõ mục đích vay và thời hạn vay. Bà H1 đã trả cho bà D, ông H2 10 lần với tổng số tiền 7 tỷ 400 triệu đồng, cụ thể: ngày 30/8/2020 trả 600.000.000 đồng, ngày 12/9/2020 trả 300.000.000 đồng, ngày 14/9/2020 trả 500.000.000 đồng, ngày 02/10/2020 trả 700.000.000 đồng, ngày 11/10/2020 trả 2.300.000.000 đồng, ngày 05/11/2021 trả 200.000.000 đồng, ngày 17/11/2021 trả 250.000.000 đồng, ngày 17/12/2020 trả 1.500.000.000 đồng, ngày 26/01/2021 trả 250.000.000 đồng, ngày 26/02/2021 trả 800.000.000 đồng. Chủ yếu bà trả bằng tiền mặt và có lần chuyển khoản nhưng không nhớ rõ, mỗi lần trả tiền thì bà D, ông H2 có ghi lại vào sổ để tính lãi theo hình thức lãi họ, việc tính lãi thế nào bà không biết, sau này hai bên tính số nợ thì bà D mới phô tô đưa cho bà. Bà H1 xác định đã trả bà D tổng số là 7.400.000.000đồng tiền gốc, còn nợ bà D, ông H2 3.600.000.000 đồng tiền gốc. Bà D tự tính lãi suất theo hình thức lãi họ là quá cao nên bà không đồng ý. Đề nghị tòa án xem xét đến số tiền bà đã trả cho bà D.

Sau đó, bà H1 có bản tự khai thay đổi về thời gian đã trả nợ, cụ thể: Thay đổi thời gian trả (từ năm 2020 sang năm 2021) gồm: Ngày 30/8/2021 trả 600.000.000 đồng; ngày 12/9/2021 trả 300.000.000 đồng; ngày 14/9/2021 trả 500.000.000 đồng; ngày 05/11/2021 trả 200.000.000 đồng; ngày 17/11/2021 trả 250.000.000 đồng; G nguyên thời gian trả gồm: Ngày 02/10/2020 trả 700.000.000 đồng; ngày 11/10/2020 trả 2.300.000.000 đồng; ngày 17/12/2020 trả 1. 500.000.000 đồng; ngày 26/01/2021 trả 250.000.000 đồng; ngày 26/02/2021 trả 800.000.000 đồng. Bà H1 vẫn xác định đã trả nguyên đơn tổng số tiền 7.400.000.000 đồng, chỉ còn nợ 3.600.000.000 đồng.

Ông Lương Anh Đ1 (chồng bà H1) xác định không biết việc bà H1 vay tiền của bà D, chỉ khi bà H1 nói với ông về việc góp vốn đầu tư làm ăn bị lừa đảo thì ông mới biết việc này. Ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án xác định ông chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, ông ủy quyền cho ông Nguyễn Mạnh T tham gia tố tụng và quyết định các vấn đề trong vụ án.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST, ngày 28-3-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Quyết định: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, Điều 244, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Căn cứ vào Điều 357, Điều 463, Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị D buộc bà Nguyễn Bích H1 phải thanh toán cho bà Trần Thị D tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: Tiền gốc 6.050.000.000 đồng và tiền lãi là 4.147.998.904 đồng. Tổng cả tiền gốc và lãi là: 10.197.999.000 (Mười tỷ một trăm chín mươi bẩy triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng) - số liệu đã được làm tròn. Ngoài ra bản án còn quyết định về Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị D, phần án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bà H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm: không đồng ý về số tiền nợ gốc và tiền lãi mà Bản án sơ thẩm buộc bà phải trả cho bà D cũng như tiền án phí mà bà H1 phải nộp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H1 giữ nguyên kháng cáo: Bà H1 xác định có vay của bà D số tiền 11 tỷ đồng từ trước ngày 30/7/2020 âm lịch nhưng đến ngày 29/9/2020 âm lịch mới viết và ký Giấy biên nhận vay tiền. Trong giấy biên nhận vay tiền, hai bên không ghi lãi suất vì không thỏa thuận với nhau về lãi. Bà H1 có bao nhiêu tiền thì trả bà D bấy nhiêu. Chốt nợ vào ngày 30 âm lịch hàng tháng. Tính đến nay, bà H1 đã thanh toán được cho bà D mười lần tiền gốc với tổng số tiền là 7.400.000.000đồng, còn nợ 3.600.000.000đồng tiền gốc. Ngày 30/12/2020, hai bên chốt nợ với nhau, ông H2 tính tiền gốc lãi đã trả và chốt lại bà H1 còn nợ bà D 7.600.000.000đồng. Bà H1 đã viết và ký Giấy biên nhận vay số tiền 7.600.000.000đồng. Lý do là vào thời điểm này bà H1 bị bà N ở thành phố Hồ Chí Minh lừa mất rất nhiều tiền nên bà H1 viết và ký Giấy nhận nợ nhưng đã nói với bà D là chị em tính toán sau. Trong Giấy vay tiền này cũng không ghi lãi suất. Vì vậy, bà H1 không đồng ý thanh toán cho bà D tiền lãi suất như bà D yêu cầu là 1,66%/tháng và bản án sơ thẩm đã quyết định. Nay bà D xác định lại số tiền bà H1 đã trả, không yêu cầu giải quyết đối với tiền họ trong vụ án này, số tiền bà H1 đã trả để thanh toán tiền họ được bà D trừ vào tiền nợ gốc của khoản vay 11 tỷ đồng, bà H1 nhất trí. Bà H1 đồng ý trả bà D số tiền gốc còn nợ là 4.650.000.000đồng và xin không phải trả tiền lãi.

Bà D xác định cho bà H1 vay số tiền 11 tỷ đồng trước ngày 30/7/2020 âm lịch là đúng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn thanh toán nhưng khi bà D cần thì báo trước và bà hằng sẽ thanh toán. Lãi suất là 900đồng/triệu/ngày. Hai bên toản thuận Đến ngày 29/9/2020, khi hai bên chốt nợ với nhau, bà D mới yêu cầu bà H1 viết giấy biên nhận theo mẫu bà D có sẵn. Ngoài số tiền 11 tỷ đồng bà H1 nợ bà D, bà H1 còn bốc nhiều bát họ của bà D, mỗi tháng bà H1 phải trả bà D tiền họ là 450.000.000đồng và tiền lãi họ. Tuy nhiên, bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tiền họ trong vụ án này nên số tiền bà H1 trả bà D để trừ vào tiền họ và tiền lãi của khoản vay 11 tỷ đồng tính từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2020 âm lịch như ông H2 đã liệt kê, tính toán, bà D tự nguyện tính trừ vào tiền nợ gốc của khoản vay 11 tỷ đồng cho bà H1. Như vậy, tổng số tiền gốc bà H1 đã trả bà D là 6.350.000.000đồng. Đến nay, bà D yêu cầu bà H1 trả tiền nợ gốc còn lại là 4.650.000.000đồng. Kể từ thời điểm bà H1 vay tiền của bà D đến nay, hai bên chưa có thỏa thuận nào khác về tiền lãi tức là hai bên vẫn thống nhất lãi suất như ban đầu. Do đó, bà D yêu cầu bà H1 trả tiền lãi trên số tiền nợ gốc ở từng thười điểm thanh toán và tiền lãi được tính làm hai giai đoạn gồm: Thời gian từ ngày 01/08/2020 đến ngày 30/12/2020 âm lịch, lãi suất bằng 19,92%/năm trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán; Thời gian từ ngày 01/01/2021 âm lịch đến ngày xét xử phúc thẩm, lãi suất là 10%/năm trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán. Sau ngày xét xử phúc thẩm, lãi suất theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Sửa bản án dân sự sơ thẩm. Buộc bà H1 phải trả bà D số tiền nợ gốc chưa thanh toán là 4.650.000.000đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Bà H1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Bích H1 trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Ông H2 và ông Đ1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Bà Trần Thị D và bà Nguyễn Bích H1 có thỏa thuận về việc vay tiền, có lập Giấy biên nhận vay tiền nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản. Bà D cho bà H1 vay tiền trước ngày 29/09/2020 âm lịch tức ngày 14/11/2020 nhưng không xác định được chính xác ngày tháng. Tuy nhiên, các bên đều xác định từ ngày 30/7/2020 âm lịch tức ngày 17/09/2020 dương lịch, các bên đã thanh toán xong tiền lãi với nhau và xác định số tiền nợ gốc bà H1 còn nợ bà D là 11 tỷ đồng. Tòa án áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn, thì thấy:

[3.1] Tại cấp phúc thẩm, bà D, ông H2 và bà H1 đều xác định số tiền 11 tỷ đồng bà D cho bà H1 vay từ trước đó (không xác định được chính xác ngày tháng) nhưng đến ngày 29/09/2020 âm lịch tức ngày 14/11/2020, bà H1 mới viết Giấy biên nhận vay tiền theo yêu cầu của bà D. “Giấy biên nhận vay tiền” là mẫu giấy của bà D in sẵn một số nội dung, bà H1 tự viết tay điền thêm một số chữ như tên, địa chỉ, số điện thoại, số tiền vay bằng số (11.000.000.000) và chữ (mười một tỷ đồng), ngày tháng vay tiền và ký tên. Trong giấy không ghi thời hạn vay cũng như lãi suất.

[3.2] Về số tiền nợ gốc đã thanh toán: Tại cấp phúc thẩm, bà H1 và bà D thống nhất về số tiền gốc đã thanh toán cho nhau tính đến ngày 30/12/2020 âm lịch là 6.350.000.000đồng, gồm:

  • Ngày 30/8/2020 tức ngày 16/10/2020 trả 600.000.000 đồng.
  • Ngày 12/9/2020 tức ngày 28/10/2020 trả 300.000.000 đồng.
  • Ngày 14/9/2020 tức ngày 30/10/2020 trả 500.000.000 đồng.
  • Ngày 02/10/2020 tức ngày 16/11/2020 trả 700.000.000 đồng
  • Ngày 11/10/2020 tức ngày 25/11/2020 trả 2.300.000.000 đồng.
  • Ngày 05/11/2021 tức ngày 18/12/2020 trả 200.000.000 đồng.
  • Ngày 17/11/2021 tức ngày 30/12/2020 trả 250.000.000 đồng.
  • Ngày 17/12/2020 tức ngày 29/01/2021 trả 1.500.000.000 đồng.

Số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 4.650.000.000đồng, bà H1 đồng ý thanh toán trả bà D. Hội đồng xét xử thấy đây sự thỏa thuận của các đương sự, không trái pháp luật nên cần chấp nhận.

[3.4] Về lãi suất từ ngày 01/8/2020 đến ngày 30/12/2020 (âm lịch), bà D yêu cầu bà H1 phải trả tiền lãi với lãi suất là 19,92%/năm. Hội đồng xét xử thấy: Tại cấp sơ thẩm và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bà H1 và bà D đều xác định: ban đầu, bà D cho bà H1 vay tiền có thỏa thuận miệng với nhau lãi suất 900đồng/1 triệu/1 ngày. Mặc dù trên Giấy biên nhận vay số tiền 11 tỷ đồng ngày 30/9/2020, không ghi thời hạn, không ghi lãi suất nhưng thực tế bà D tính lãi suất như trên và bà H1 đồng ý trả lãi, nhận giấy ghi chốt gốc lãi (do ông H2 viết) nhiều ngày nhưng không có ý kiến phản đối. Khi hai bên chốt nợ vào ngày 30/12/2020 âm lịch, xác định bà H1 còn nợ bà D số tiền 7.609.250.000đồng, bà D tính tròn thành 7.600.000.000đồng, bà H1 đã tự nguyện ký Giấy biên nhận vay số tiền 7.600.000.000đồng của bà D. Trong số tiền 7.600.000.000đồng này bao gồm tiền gốc chưa trả và tiền lãi các tháng 10, 11 và 12 năm 2020 của khoản vay 11 tỷ đồng tính từng thời điểm thanh toán tiền gốc với lãi suất được ông H2 và bà D tính là 900đồng/1 triệu/1 ngày tương đương 32,4%/năm. Do đó, có căn cứ xác định Hợp đồng vay tiền giữa bà D và bà H1 là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi. Thời điểm từ 01/8/2020 đến 30/12/2020 âm lịch, hai bên có thỏa thuận về lãi suất và mức lãi suất là 900đồng/1 triệu/1 ngày tương đương 32,4%/năm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan..... Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Từ đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà D về việc buộc bà H1 phải trả cho bà D tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán với lãi suất là 19,92%/năm thời gian tính từ ngày 01/8/2020 âm lịch đến ngày 30/12/2020 âm lịch tại từng thời điểm thanh toán.

[3.4] Về lãi suất từ ngày 01/01/2021 (âm lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm, bà D tự nguyện yêu cầu bà H1 trả tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán với lãi suất là 10%/năm vì lý do hiện nay bà H1 đang có khó khăn về tài chính. Xét thấy: Ngày 30/12/2020, hai bên chốt nợ gốc và lãi với nhau là lần cuối cùng, đồng thời bà H1 cũng không trả thêm được bà D bất kỳ khoản tiền nào. Mặc dù trong giấy biên nhận vay tiền đề ngày 30/12/2020 âm lịch không ghi lãi suất cụ thể nhưng trên Giấy biên nhận vay tiền này có ghi “thời hạn vay là 30 ngày. Đến hạn trên vợ chồng tôi hoàn trả gốc lãi theo đúng hạn………….”. Bà H1 cho rằng thời điểm này bà H1 rất khó khăn về tài chính nên không thỏa thuận về lãi với bà D và trong Giấy biên nhận vay tiền không ghi lãi suất. Hội đồng xét xử thấy tại thời điểm ngày 30/12/2020 âm lịch, hai bên không có thỏa thuận về lãi suất thì bà H1 phải gạch bỏ dòng chữ “Đến hạn trên vợ chồng tôi hoàn trả gốc lãi theo đúng hạn. Nếu sai, vợ chồng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật và anh chị Dung Hiền” trên Giấy biên nhận vay tiền. Bản thân bà H1 giữ Giấy vay tiền này rất nhiều ngày tháng nên biết rõ các nội dung có trong Giấy biên nhận vay tiền này nhưng không phản đối. Bà H1 cũng không có căn cứ chứng minh về việc có thỏa thuận lại với bà D về việc không trả lãi suất cho bà D như thỏa thuận ban đầu. Vì vậy, có cơ sở xác định khi chốt nợ với nhau ngày 30/12/2020 âm lịch, các bên có thỏa thuận với nhau về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp. Tại cấp phúc thẩm, bà D yêu cầu bà H1 phải trả tiền lãi với lãi suất 10%/năm tính từ này 01/01/2021 âm lịch đến ngày xét xử phúc thẩm là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015 và tiểu mục a.1 mục 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Cụ thể “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả”. Do đó, cần buộc bà H1 phải thanh toán cho bà D tiền lãi trên nợ gốc còn chưa thanh toán với lãi suất là 10%/năm kể từ ngày 01/01/2021 âm lịch đến ngày xét xử phúc thẩm.

[3.4] Số tiền lãi được tính cụ thể từng thời điểm như sau:

  • Ngày 30/8/2020 âm lịch tức ngày 16/10/2020, trả 600.000.000đồng. Số tiền gốc tính lãi là 11.000.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 01/08/2020 âm lịch tức ngày 17/9/2020 đến ngày 16/10/2020, số ngày tính lãi 30 ngày bằng: [(11.000.000.000 x 19,92%/năm) / 365 ngày] x 30 ngày = 180.098.000đồng.(số liệu đã được làm tròn)
  • Ngày 28/10/2020 trả 300.000.000đồng; Số tiền gốc tính lãi là 10.400.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 17/10/2020 đến ngày 28/10/2020, số ngày tính lãi 12 ngày, bằng: [(10.400.000.000 x 19,92%/năm) / 365 ngày] x 12 ngày = 68.110.000đồng. (số liệu đã được làm tròn).
  • Ngày 30/10/2020 trả 500.000.000đồng; Số tiền gốc tính lãi là 10.100.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 29/10/2020 đến ngày 30/10/2020, số ngày tính lãi 02 ngày bằng: [(10.100.000.000 x 19,92%/năm) / 365 ngày] x 02 ngày = 11.024.000đồng. (số liệu đã được làm tròn).
  • Ngày 16/11/2020 trả 700.000.000đồng. Số tiền gốc tính lãi là 9.600.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 31/10/2020 đến ngày 16/11/2020, số ngày tính lãi 17 ngày bằng: [(9.600.000.000 x 19,92%/năm) / 365 ngày] x 17 ngày = 89.067.000đồng.(số liệu đã được làm tròn).
  • Ngày 25/11/2020 trả 2.300.000.000đồng; Số tiền gốc tính lãi là 8.900.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 17/11/2020 đến ngày 25/11/2020, số ngày tính lãi 09 ngày, bằng: [(8.900.000.000 x 19,92%/năm) / 365 ngày] x 9 ngày = 43.715.000đồng.(số liệu đã được làm tròn)
  • Ngày 18/12/2020 trả 200.000.000đồng; Số tiền gốc tính lãi là 6.600.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 26/11/2020 đến ngày 18/12/2020, số ngày tính lãi 23 ngày, bằng: [(6.600.000.000 x 19,92%/năm) / 365 ngày] x 23 ngày = 82.845.000đồng.(số liệu đã được làm tròn).
  • Ngày 30/12/2020 trả 250.000.000đồng; Số tiền gốc tính lãi là 6.400.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 19/12/2020 đến ngày 30/12/2020, số ngày tính lãi 12 ngày, bằng: [(6.400.000.000 x 19,92%/năm) / 365 ngày] x 12 ngày = 41.913.000đồng.(số liệu đã được làm tròn).
  • Ngày 29/01/2021 trả 1.500.000.000đồng; Số tiền gốc tính lãi là 6.150.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 31/12/2020 đến ngày 29/01/2021, số ngày tính lãi 30 ngày, bằng: [(6.150.000.000 x 19,92%/năm) / 365 ngày] x 30 ngày = 100.691.000đồng (số liệu đã được làm tròn).
  • Ngày 30/01/2021 đến ngày 11/02/2021 (tức ngày 30/12/2020 âm lịch). Số tiền gốc tính lãi là 4.650.000.000đồng, lãi suất 19,92%/năm, số ngày tính lãi 13 ngày, bằng: [(4.650.000.000 x 19,92%/năm) / 365ngày] x 13ngày = 32.991.000đồng.(số liệu đã được làm tròn).
  • Từ ngày 12/02/2021 đến ngày xét xử phúc thẩm 07/8/2024 là 1.272 ngày, số tiền tính lãi là 4.650.000.000đồng, lãi suất 10%/năm, bằng: [(4.650.000.000 x 10%/năm) / 365 ngày] x 1.272 ngày = 1.620.493.000đồng.(số liệu đã được làm tròn)

Cộng tiền lãi bằng 2.270.947.000đồng.(số liệu đã được làm tròn).

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn; sửa bản án sơ thẩm, xác định lại số tiền nợ gốc và tiền lãi suất bị đơn phải trả nguyên đơn.

[5] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự đối với số tiền phải thanh toán.

[6] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm, cấp phúc thẩm không xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; CáccĐiều 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Bích H1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị D. Buộc bà Nguyễn Bích H1 phải trả cho bà Trần Thị D số tiền nợ gốc là 4.650.000.000 đồng (bốn tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi tính đến ngày xét xử phúc thẩm là 2.270.947.000đồng (hai tỷ hai trăm bảy mươi triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn đồng). Tổng cộng, bà Nguyễn Bích H1 phải trả bà Trần Thị D số tiền 6.920.947.000đồng. (sáu tỷ chín trăm hai mươi triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích H3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả bà Hằng số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0003085 ngày 15/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.

    Bà Nguyễn Thị Bích H3 phải chịu 114.920.900đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Hoàn t cho bà Trần Thị D số tiền tạm ứng án phí 58.439.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000202 ngày 05/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - TAND TP Hải Dương;
  • - Chi cục THA dân sự TP Hải Dương;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/DS-PT ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 69/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị D - Nguyễn Bích H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger