Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/8/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thanh Đào

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Minh Phương.

2. Bà Nguyễn Thị Mai Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 249/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 566/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Bào Thị H, sinh năm 1983. Đăng ký thường trú: số B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: số D đường B, Khu dân cư C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

* Bị đơn: Ông Võ Hoàng T, sinh năm 1978. Địa chỉ: số B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

(Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Bào Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bào Thị H và ông Võ Hoàng T tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn thì chung sống hạnh phúc, cho đến thời gian vào năm 2016 bà H và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sông dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc. Bà H và ông T sống ly thân cách nay 03 tháng. Nay, bà H xác định không còn tình cảm với ông T. Nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Hoàng T.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống có 02 người con chung là Võ Bào Đoan N (nữ), sinh ngày 28/6/2009, Võ Bào Khánh N1 (nữ), sinh ngày 21/02/2016, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Đoan N, cháu Khánh N1, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Võ Hoàng T trình bày: Ông Q thống nhất với lời trình bày của bà H về thời gian kết hôn và đăng ký kết hôn. Hiện nay ông không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con.

- Về con chung: ông T thống nhất với lời trình bày của bà H là giữa vợ chồng chung sống 02 người con chung là Võ Bào Đoan N (nữ), sinh ngày 28/6/2009, Võ Bào Khánh N1 (nữ), sinh ngày 21/02/2016. Đặt trường hợp ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Đoan N, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Ông giao cháu Khánh N1 cho bà H trược tiếp nuôi con và không cấp dưỡng nuôi cháu Khánh N1.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn là bà Bào Thị H và bị đơn là ông Võ Hoàng T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh. Ông Võ Hoàng T hiện đang cư trú tại quận N, thành phố Cần Thơ. Do vậy, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Bào Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự

2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án, quan hệ hôn nhân giữa bà Bào Thị H và ông Võ Hoàng T là hợp pháp. Trong thời gian chung sống. Theo bà H trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng sống từ năm 2016 cho đến nay là do ông T do không việc ai nấy làm, không có tiếng nói chung và không có sự chia sẽ, đồng cảm với nhau từ đó làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt. Qua thực tế bà H xác định là cả hai không còn sống chung với nhau từ thời điểm 03 tháng nay, điều này thể hiện vợ chồng bà H và ông T có mâu thuẫn và không sống chung, mỗi người sống một nơi. Như vậy, lời trình bày của bà H về quan hệ hôn nhân, sự mâu thuẫn giữa hai bên là đúng sự thật, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà H kiên quyết xin được ly hôn, còn ông T, mặc dù ông T cho rằng: còn thương vợ con, tuy nhiên từ thời điểm ly thân đến nay, phía ông T không có biện pháp nào để hàn gắn cuộc hôn nhân này. Bà H cho rằng không còn tình cảm với ông T và không đồng ý hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định đời sống hôn nhân của các đương sự đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Xét thấy yêu cầu ly hôn của bà H phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H ly hôn ông T

Về nuôi dưỡng con chung: Hiện nay, bà H đang trực tiếp chăm sóc con chung 02 người con chung là Võ Bào Đoan N (nữ), sinh ngày 28/6/2009, Võ Bào Khánh N1 (nữ), sinh ngày 21/02/2016. Bà H mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Trong khi đó, ông T cũng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Đoan N, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xừ nhận thấy, cả hai bên đương sự đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoan N. Tại phiên tòa, ông T có cung cấp mức thu nhập lương thực lãnh gần nhất là tháng 6/2024 với số tiền là 12.758.354 đồng (theo đơn xác nhận lương ngày 24/7/2024) nhưng ông T cho rằng nghề nghiệp của ông T là nhân viên taxi, làm việc ngày đêm là 24/24h, chỉ nghỉ được 4 giờ, giờ giấc không ổn định, hiện bản thân ông T vẫn còn đang trả nợ. Mặc dù, ông T cam kết xắp xếp thời gian để đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đoan N thật tốt. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử, nhận thấy các cháu Đoan N, Khánh N1 đều là giới tính nữ, hiện cháu Đoan N đang ở độ tuổi dậy thì nên cần có sự gần gũi, chỉ dẫn và dạy bảo của người mẹ nhiều hơn. Hơn nữa, cả 02 cháu Đoan N và Khánh N1 đều nguyện vọng được mong muốn ở cùng với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và ổn định cho sự phát triển của các cháu, Hội đồng xét xử giao cả 02 con chung là cháu Đoan N, Khánh N1 cho bà H nuôi dưỡng, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Bào Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bào Thị H đối với ông Võ Hoàng T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bào Thị H được ly hôn ông Võ Hoàng T.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên là Võ Bào Đoan N (nữ), sinh ngày 28/6/2009, Võ Bào Khánh N1 (nữ), sinh ngày 21/02/2016 cho bà Bào Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Võ Hoàng T không cấp dưỡng nuôi con chung.

    Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T không ai có quyền ngăn cản.

    Vì lợi ích mọi mặt của cháu Đoan N và cháu Khánh N1, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Bào Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0001380 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà H đã nộp xong án phí.
  5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - UBND P. Hưng Lợi, Q. Ninh Kiều;
  • - VKSND Q.Ninh Kiều;
  • - CCTHADS Q.Ninh Kiều;
  • - TAND TP.Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Từ Thanh Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bào Thị Hò đối với ông Võ Hoàng Thanh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger