Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỸ HÀO

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HSST.

Ngày: 07/08/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1- Ông Phan Xuân Hùng.
    2- Ông Nguyễn Xuân Khải.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thuý Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:Bà Đặng Hiền Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 07/08/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 09/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 25/07/2024, đối với các bị cáo:

  1. Đào Duy H, Sinh năm 1958tại phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên;Nơi đăng ký hộ khẩu thường tổ dân phố N, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Nguyên chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V1 hưu;Họ tên bố: Đào Văn H1 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H2(đã chết); Vợ: Đặng Thị D và có 01 con; Tiền sự, Tiền án: Không. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà).
  2. Bì Quốc Đ, Sinh năm 1977tại phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố H, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Cán bộ địa chính; Họ tên bố: Bì Chỉ Đạo; Họ tên mẹ: Vương Thị L; Vợ: Trần Thị Thanh T và có 02 con; Tiền sự, Tiền án: Không. (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Văn P, sinh năm 1985(Vắng mặt).
  2. Ông Trần Văn H3, sinh năm 1964(Vắng mặt).

Đều có địa chỉ: tổ dân phố K, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

  1. Ông Vũ Văn D1, sinh năm 1957(Vắng mặt).

Địa chỉ: tổ dân phố Y, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

  1. Ông Đào Văn X, sinh năm 1959 (Vắng mặt).
  2. Anh Đào Quốc T1, sinh năm 1973 (Vắng mặt).

Đều có địa chỉ: tổ dân phố N, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

  1. Ông Vương Tiến D2, sinh năm 1962 (Vắng mặt).

Địa chỉ: tổ dân phố H, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

HÀNH VI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG:

Trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2016 trên địa bàn xã P, huyện M, tỉnh Hưng Yên (nay là phường P, thị xã M), Đào Duy H, sinh năm 1958 ở tổ dân phố N, phường P, thị xã M(nguyên Chủ tịch UBND xã giai đoạn 2010-2018) và Bì Quốc Đ, sinh năm 1977 ở tổ dân phố H, phường P, thị xã M(nguyên cán bộ địa chính xã giai đoạn 2001 - tháng 1/2022), chưa thực hiện hết chức trách nhiệm vụ được giao, buông lỏng trong công tác quản lý đất đai tại địa phương nên đã để xảy ra tình trạng cán bộ của 04 thôn (K, Y, Nghĩa Trang và Hoàng L1) có hành vi bán đất trái thẩm quyền (dưới các hình thức bán đất, thầu dài hạn, góp đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất... không đúng thẩm quyền) cho các hộ dân để lấy kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng của thôn với tổng diện tích là 55.990,02m² gây thiệt hại cho nhà nước 6.487.698.720đ. Cụ thể như sau:

1/. Thôn K (nay là tổ dân phố K):

Với động cơ mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất tại địa phương. Trong quá trình thực hiện công vụ được giao, Phạm Văn P sinh năm 1985 - trưởng thôn Kim H4, xã P (trong giai đoạn năm 2010-2017) và Trần Văn H3 sinh năm 1964 - Bí thư thôn K, xã P (trong giai đoạn năm 2008 - 2014) đã vượt quá quyền hạn, chức trách nhiệm vụ được giao thông qua việc tổ chức họp Chi bộ thôn, dân quân chính đảng và quần chúng nhân dân thống nhất ban hành nghị quyết về việc bán đất trái thẩm quyền dưới hình thức bán đất, thầu dài hạn, thầu 30 năm hoặc 50 năm với tổng diện tích 38.666m2 (tại các khu vực Cầu U, trường cấp 2 cũ, khu ruộng 5 sào, Ao C và một số cánh đồng thôn K) thu được tổng số tiền 6.196.400.000₫ (Sáu tỷ, một trăm chín mươi sáu triệu, bốn trăm nghìn đồng), kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐ ngày 20/6/2022 và số 68/KL-HĐ ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã M kết luận: Giá tại thời điểm bán là 5.334.062.500đ (Năm tỷ, ba trăm ba mươi tư triệu, không trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm đồng), tại thời điểm định giá là 7.632.975.000₫ (Bẩy tỷ, sáu trăm ba mươi hai triệu, chín trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng).(Phụ lục số 1).

Trong đó:

  • - Trần Văn H3 chịu trách nhiệm 4.370m 2 gây thiệt hại cho nhà nước 2.975.726.500đ (Hai tỷ, chín trăm bảy mươi năm triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn, năm trăm đồng) thời điểm 2010-2014.
  • Phạm Văn P chịu trách nhiệm: 38.230m2 gây thiệt hại cho nhà nước trị giá: 4.783.936.500₫ (Bốn tỷ, bảy trăm tám mươi ba triệu, chín trăm ba mươi sáu nghìn, năm trăm đồng) thời điểm 2011-2016.

Ngày 22/7/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phạm Văn PTrần Văn H3 về tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ theo khoản 2 Điều 357 của Bộ luật hình sự 2015. Ngày 06/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào ban hành Cáo trạng số 32/CT-VKSMH Quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào để xét xử các bị can PH3 về tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 282 của Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 25/5/2023 Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào đưa vụ án ra xét xử, tuyên phạt bị cáo Trần Văn H3 03 năm tù, Phạm Văn P 03 năm 06 tháng tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.

2/. Thôn Y (nay là tổ dân phố Y):

Xuất phát từ việc cần tiền phục vụ cho việc xây dựng các công trình của địa phương, Vũ Văn D1 sinh năm 1957 - Trưởng thôn Y, xã P (giai đoạn từ năm 2010-2020) đã vượt quá quyền hạn, chức trách nhiệm vụ được giao bán đất trái thẩm quyền trong thời điểm 2010-2016 dưới các hình thức: (Đấu thầu dài hạn, cho người dân góp ½ diện tích đất ruộng để được toàn quyền sử dụng ½ diện tích đất ruộng còn lại, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không đúng thẩm quyền...) với tổng diện tích 11.346m²(tại các khu vực Cầu U, khu V, khu C, khu M, khu đồng Rủi, khu Đ, khu Đ), kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐ ngày 30/12/2022, số 30/KL-HĐ ngày 20/5/2024 và số 41/KL-HĐ ngày 04/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã M kết luận: Giá tại thời điểm bán là 788.977.000₫ (Bẩy trăm tám mươi tám triệu, chín trăm bẩy mươi bẩy nghìn đồng), tại thời điểm định giá là 1.021.140.000đ (Một tỷ, không trăm hai mươi mốt triệu, một trăm bốn mươi nghìn đồng). (Phụ lục số 2).

Ngày 09/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều traCông an thị xã M ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Văn D1 về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo khoản 2 Điều 357 của Bộ luật hình sự năm 2015. Hiện vụ án đang được điều tra.

3/. Thôn N (nay là tổ dân phố N):

Để thực hiện chủ trương tìm nguồn kinh phí xây dựng một số công trình phúc lợi trong thôn như: xây dựng đường làng, trường mầm non, nhà quản trang, kè ao cùng một số cơ sở hạ tầng khác, khoảng tháng 02/2011 Đào Văn X sinh năm 1959 - Bí thư chi bộ thôn (giai đoạn 2010-2015), Đào Văn Ư sinh năm 1952 - Trưởng thôn(giai đoạn 2011-2013) và Đào Quốc T1 sinh năm 1973 - Trưởng thôn (giai đoạn 2013-2015)đã vượt quá quyền hạn, chức trách nhiệm vụ được giao thông qua việc tổ chức họp Chi bộ thôn, dân quân chính đảng và quần chúng nhân dân thống nhất ban hành nghị quyết về việc bán đất trái thẩm quyền trong thời điểm 2011-2015 dưới hình thức bán đất, thầu dài hạn, với tổng diện tích 3.778m² các khu vực: Thùng ao cửa làng bờ Dậy, rãnh liền kề cạnh lô số 1 thùng ao cửa làng bờ Dậy, thùng ao ông C, thùng rạch khu cửa ao, thùng rạch khu bờ Dậy, khu ao Dộc; gây thiệt hại cho Nhà nước 230.458.000₫ (Hai trăm ba mươi triệu, bốn trăm lăm mươi tám nghìn đồng); Tổng số tiền thu được là 3.476.400.000 (Ba tỷ, bốn trăm bảy mươi sáu triệu, bốn trăm nghìn đồng). (Phụ lục số 3).

Trong đó:

  • - Năm 2011-2012, Đào Văn ƯĐào Văn X đã bán 09 suất với diện tích 1.366m²; kết luận định giá số 23/KL-HĐ ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã M kết luận: Giá tại thời điểm năm 2011 là 83.326.000đ(T2 mươi ba triệu, ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng), tại thời điểm định giá là 122.940.000đ(Một trăm hai mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng); số tiền thu được là 2.117.150.000đ(Hai tỷ, một trăm mười bảy triệu, một trăm lăm mươi nghìn đồng).
  • Năm 2013-2015, Đào Quốc T1Đào Văn X đã bán 04 suất đất với tổng diện tích 2.412m²; kết luận định giá số 23/KL-HĐ ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã M kết luận: Giá tại thời điểm bán là 147.132.000đ(Một trăm bốn mươi bảy triệu, một trăm ba mươi hai nghìn đồng), giá tại thời điểm định giá là 340.020.000₫ (Ba trăm bốn mươi triệu, không trăm hai mươi nghìn đồng); số tiền thu được là 1.359.250.000đ(Một tỷ, ba trăm năm mươi chín triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngày 08/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đào Văn XĐào Quốc T1 về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”theo khoản 2 Điều 357 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với Đào Văn Ư gây thiệt hại cho Nhà nước 83.326.000đ(T2 mươi ba triệu, ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng) thuộc trường hợp phạm tội theo khoản 1 Điều 357 của Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 01 năm đến 07 năm tù (tội phạm nghiêm trọng- thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự 10 năm). Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 27 của Bộ luật hình sự thì thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là năm 2011 đến nay đã là 13 năm nên đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy không khởi tố đối với Đào Văn Ư.Hiện vụ án đang được điều tra theo quy định.

4/. Thôn H (nay là tổ dân phố H):

Thời điểm năm 2011-2012, để thực hiện chủ trương tìm nguồn kinh phí xây dựng một số công trình phúc lợi trong thôn như: Xây dựng đường làng, làm chùa, đình làng cùng một số cơ sở hạ tầng khác, Vương Đình N - Bí thư chi bộ thôn (đã chết) và Vương Tiến D2, sinh năm 1962 - Trưởng thôn (giai đoạn 2004-2014) đã vượt quá quyền hạn, chức trách nhiệm vụ được giao thông qua việc tổ chức họp Chi bộ thôn, dân quân chính đảng và quần chúng nhân dân thống nhất ban hành nghị quyết về việc bán đất trái thẩm quyền dưới hình thức bán đất, thầu dài hạn, với tổng diện tích 2.200,02m² đất các khu vực: Đường L và các thùng ao; kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐ ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã M kết luận giá trị tại thời điểm xảy ra là134.201.220đ(Một trăm ba mươi tư triệu, hai trăm linh một nghìn, hai trăm hai mươi hai đồng), giá tại thời điểm định giá là 198.001.800₫ (Một trăm chín mươi tám triệu, không trăm linh một nghìn, tám trăm đồng); số tiền thu được là 6.386.200.000₫ (Sáu tỷ, ba trăm tám mươi sáu triệu, hai trăm nghìn đồng). (Phụ lục số 4).

Ngày 08/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vương Tiến D2 về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo khoản 2 Điều 357 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với Vương Đình N đã chết nên không xem xét xử lý. Hiện vụ án đang được điều tra theo quy định.

Quá trình điều tra đã làm rõ:

Việc cán bộ 04 thôn tiến hành họp, bàn bạc, thống nhất và thực hiện bán đất trái thẩm quyền, Đào Duy H - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xV1 (giai đoạn 2010-2018) và Bì Quốc Đ -Cán bộ địa chính xã (giai đoạn 2001 - tháng 1/2022) không quản lý được. Qua kiểm tra sổ sách Ủy ban nhân dân xã V1 xã cung cấp xác định không có nghị quyết, chủ trương cho các thôn trên địa bàn xã bán, giao đất trái thẩm quyền để lấy kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng thôn. Sau khi các thôn bán đất xong thì H, Đ mới biết nên đã khắc phục, thu hồi được một phần hậu quả (ngày 02/11/2011 Ủy ban nhân dân xã V1 có biên bản về việc thu hồi 270m² đất thôn K đã bán cho ông Đào Văn P1, ngày 30/01/2018 Ủy ban nhân dân xã V1 có thông báo về việc hủy hợp đồng đấu thầu đối với 368m² đất giữa thôn K và ông Nguyễn Quang C1). Tuy nhiên còn nhiều diện tích đất bị bán trái thẩm quyền chưa thu hồi được.

Để xảy ra việc bán đất trái thẩm quyền của cán bộ thôn: Kim H4, Yên xá, Nghĩa T3 và Hoàng Lê tại xã P nêu trên là do Đào Duy HBì Quốc Đ chưa thực hiện hết chức trách nhiệm vụ được giao, buông lỏng trong công tác quản lý đất đai tại địa phương. Cụ thể:

Bì Quốc Đ với vai trò là công chức địa chính, xây dựng xã có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc quản lý đất đai tại địa phương, thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng đất tại địa phương để phát hiện kịp thời những trường hợp lấn, chiếm đất đai, không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ không đúng với quy định của pháp luật và các trường hợp khác có vi phạm hành chính trong quản lý sử dụng đất đai theo các quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 25 của Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 182 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 03/2004/TT-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ N2 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Điều 6 Thông tư số 06/2012/TT-BVN ngày 30/10/2012 của Bộ N2 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn; khoản 4 Điều 2 Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ N2 hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố. Theo quy định tại Điều 6, Điều 7 Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân xã V1 thì cán bộ địa chính - Uỷ viên ủy ban sẽ phải chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được phân công trước Chủ tịch Ủy ban nhân dâV1 và Uỷ ban nhân dân xã, phải nắm tình hình và báo cáo kịp thời với Chủ tịch Ủy ban nhân dân xV1 về lĩnh vực công tác của mình. Trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc công việc thuộc lĩnh vực được phân công trên địa bàn; tăng cường kiểm tra, đôn đốc trưởng thôn hoàn thành các nhiệm vụ; giúp Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dâV1 thực hiện chức năng quản lý nhà nước cấp xã. Tuy nhiên Đ đã không thực hiện hết trách nhiệm vụ của mình trong việc kiểm tra sử dụng đất, không phát hiện ngăn chặn kịp thời các trường hợp vi phạm về lĩnh vực đất đai trong nhiều năm trên địa bàn; để cán bộ của 04 thôn (Kim H4, Y, Nghĩa Trang và Hoàng L1) có hành vi bán đất trái thẩm quyền với tổng diện tích là 55.990,02m² gây thiệt hại cho nhà nước 6.487.698.720đ(Sáu tỷ, bốn trăm tám bảy triệu, sáu trăm chín tám nghìn, bảy trăm hai mươi đồng). Đến nay một số diện tích đã được người dân xây dựng nhà, xưởng. Sự việc diễn ra trong thời gian dài nhưng không phát hiện, tham mưu cho Uỷ ban nhân dân xã có biện pháp để giải quyết xử lý làm mất sự quản lý của Nhà nước đối với một số diện tích đã bán, làm một số cán bộ thôn vi phạm pháp luật hình sự.

Đào Duy H với trách nhiệm là người đứng đầu Uỷ ban nhân dân xã, là người chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý đất đai của địa phương. Có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương; chỉ đạo thường xuyên việc kiểm tra phát hiện các hành vi lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển mục đích sử dụng đất đai trái pháp luật, người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ không đúng với quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 4 Điều 7 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 23 của Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 182 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai. Tại Điều 4 Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân xã V1 nhiệm kỳ từ năm 2010-2015 và từ năm 2016-2021 quy định: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã là người đứng đầu Uỷ ban nhân dân, lãnh đạo và điều hành mọi công việc của Uỷ ban nhân dân, chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại điều 29 và Điều 121 của Luật tổ chức chính quyền địa phương. Có trách nhiệm kiểm tra các thành viên Uỷ ban nhân dân xã và các cán bộ, công chức khác thuộc Ủy ban nhân dâV1 xã, Trưởng thôn trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng H đã không làm hết chức trách nhiệm vụ của mình để cán bộ của 04 thôn (Kim H4, Y, Nghĩa Trang và Hoàng L1) có hành vi bán đất trái thẩm quyền với tổng diện tích là 55.990,02m² gây thiệt hại cho nhà nước 6.487.698.720đ(Sáu tỷ, bốn trăm tám bảy triệu, sáu trăm chín tám nghìn, bảy trăm hai mươi đồng). Đến nay một số diện tích đã được người dân san lấp, xây dựng nhà, xưởng. Sự việc diễn ra trong thời gian dài nhưng không có biện pháp để giải quyết xử lý làm mất sự quản lý của Nhà nước đối với một số diện tích đã bán, làm một số cán bộ thôn vi phạm pháp luật hình sự.

Quá trình điều tra, Đào Duy HBì Quốc Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

MỘT SỐ NỘI DUNG KHÁC:

+Đối với Bí thư Đảng ủy, Thường vụ, Đảng ủy viên phụ trách thôn:

Ông Nguyễn Tiến N1 - Bí thư Đảng ủy và là Thường vụ Đảng ủy phụ trách thôn Y; T - Thường vụ Đảng ủy được giao phụ trách thôn K; Đặng Văn T4 - Thường vụ Đảng ủy phụ trách thôn H; Trần Văn T5 - Đảng ủy viên phụ trách thôn K,Vương Văn T6 - Đảng ủy viên phụ trách thôn H; Đào Thiện V - nguyên Đảng ủy viên phụ trách thôn N; Lê Quang Q - Đảng ủy viên phụ trách thôn Y.

Với vai trò của Bí thư là thiếu kiểm tra giám sát; Thường vụ phụ trách và Đảng viên phụ trách chưa sát sao, thường xuyên kiểm tra hoạt động Ban Chi ủy và Chi bộ thôn trong việc triển khai và thực hiện nghị quyết Đảng cấp trên nên xảy ra việc các thôn bán đất trái thẩm quyền. Tuy nhiên những đối tượng này đã không làm hết trách nhiệm tư cách của Đảng viên, đây chỉ là hành vi vi phạm Điều lệ Đảng. Theo quy định của Điều lệ Đảng, các hình thức xử lý Đảng viên vi phạm không có trường hợp nào là khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy không xem xét trách nhiệm hình sự mà kiến nghị xem xét xử lý theo quy định của Đảngvề việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của Đảng viên đối với các ôngNguyễn Tiến Nghị, Trần Quốc H5, Đặng Văn T4, Trần Văn T5,Vương Văn T6, Đào Thiện V, Lê Quang Q.

+ Đối với Lê Thị L2- Cán bộ địa chính 2 và anh Đặng Văn S - Địa chính từ 2018-2021:

  • - Đối với chị Lê Thị L2 là địa chính 2- Phụ trách công tác trong lĩnh vực môi trường, nông nghiệp không phải là người chịu trách nhiệm tham mưu cho Uỷ ban nhân dân xã trong việc quản lý đất đai nên không nắm được việc các thôn đã bán đất trái thẩm quyền nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
  • - Đối với anh Đặng Văn S tại thời điểm làm công tác địa chính thì các thôn đã dừng việc bán đất trái thẩm quyền và không liên quan nên cơ quan điều tra không xem xét và xử lý.

+ Đối với vật chứng, tài liệu thu giữ:

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã quản lý của Ủy ban nhân dân phường V1Đảng Ủy phường P các sổ Nghị Quyết, sổ công văn đi phục vụ công tác điều tra. Ngày 07/6/2024 Cơ quan điều tra đã sao lại toàn bộ tài liệu nói trên và trả lại bản gốc cho Ủy ban nhân dân phườngĐảng ủy phường V1.

Trong giai đoạn truy tố, ngày 27/6/2024 các bị can đã tự nguyện nộp số tiền khắc phục hậu quả vào ngân sách nhà nước cụ thể như sau: Đào Duy H 50.000.000₫ (biên lai số 0002257 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào) và Bì Quốc Đ 40.000.000đ (biên lai số 0002258 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào).

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSMH ngày 08/07/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”theo khoản 1 Điều 285 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Tại phiên toà hôm nay: Vắng mặt toàn bộngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phạm Văn P, Trần Văn H3, Vũ Văn D1, Đào Văn X, Đào Quốc T1, Vương Tiến D2.

Các bị cáo Đào Duy H, Bì Quốc Đ1 Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục phiên toà, xét xử vụ án vì những người vắng mặt đều đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

Các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ và đề nghị với Hội đồng xét xử:

* Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 285 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo HĐ; Áp dụng thêm điểm v, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo H.
  • * Tuyên bố: Các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ3 tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng".
  • * Xử phạt:
    1. 1- Bị cáo Đào Duy H từ 02năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. 2- Bị cáo Bì Quốc Đ4 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Duy H và bị cáo Bì Quốc Đ cho Ủy ban nhân dân phường V1, thị xã M, tỉnh Hưng Yên để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án này. Gia đình các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

  • * Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo HĐ.
  • * Về vật chứng, tài liệu đã thu giữ: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã sao lại toàn bộ tài liệu và trả lại bản gốc cho Ủy ban nhân dân phườngĐảng ủy phường V1 nên đề nghị không xem xét.
  • * Ghi nhận sự tự nguyện khắc phục hậu quảcủa các bị cáo HĐ, trong quá trình điều tra bị cáo H đã nộp 50.000.000đ, bị cáo Đ đã nộp 40.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào. Đề nghị sung vào ngân sách nhà nước.
  • * Các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt vàcác vấn đề khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

2- Lời khai của các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ5 phiên toà đều phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra,lời khaingười có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với nội dung bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận:"Trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2016 trên địa bàn xã P, huyện M, tỉnh Hưng Yên (nay là phường P, thị xã M), Đào Duy H (nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V1 2010-2018), là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc quản lý đất tại địa phương và Bì Quốc Đ (nguyên cán bộ địa chính tại xã), là người có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc quản lý đất đai tại địa phương nhưng đã thiếu trách nhiệm nên để xảy ra tình trạng Bí thư Chi bộ và Trưởng thôn của 04 thôn (K, Y, Nghĩa Trang và Hoàng L1) có hành vi bán đất trái thẩm quyền (dưới các hình thức bán đất, thầu dài hạn, góp đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất... không đúng thẩm quyền) cho các hộ dân để lấy kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng của thôn với tổng diện tích là 55.990,02m² gây thiệt hại cho nhà nước 6.487.698.720₫ (Sáu tỷ, bốn trăm tám bảy triệu, sáu trăm chín tám nghìn, bảy trăm hai mươi đồng).

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố:Các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ về tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" theo khoản 1 Điều 285 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009)là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

3- Xét tính chất vụ án do các bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Bởi các bị cáo đã để xảy ra việc bán đất trái thẩm quyền của cán bộ thôn: Kim H4, Yên xá, Nghĩa T3 và Hoàng Lê tại xã P nêu trên là do các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ chưa thực hiện hết chức trách nhiệm vụ được giao, buông lỏng trong công tác quản lý đất đai tại địa phương. Cụ thể:

Đối với bị cáo Đào Duy H với trách nhiệm là người đứng đầu - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, là người chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý đất đai của địa phương. Có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương; chỉ đạo thường xuyên việc kiểm tra phát hiện các hành vi lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển mục đích sử dụng đất đai trái pháp luật, người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ không đúng với quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 4 Điều 7 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 23 của Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 182 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai; Điều 4 Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân xã V1 nhiệm kỳ từ năm 2010-2015 và từ năm 2016-2021;Điều 29 và Điều 121 của Luật tổ chức chính quyền địa phương.

Đối với bị cáo Bì Quốc Đ với vai trò là công chức địa chính, xây dựng xã có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc quản lý đất đai tại địa phương, thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng đất tại địa phương để phát hiện kịp thời những trường hợp lấn, chiếm đất đai, không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ không đúng với quy định của pháp luật và các trường hợp khác có vi phạm hành chính trong quản lý sử dụng đất đai theo các quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 25 của Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 182 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 03/2004/TT-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ N2 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Điều 6 Thông tư số 06/2012/TT-BVN ngày 30/10/2012 của Bộ N2 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn; khoản 4 Điều 2 Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ N2 hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; Điều 6, Điều 7 Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân xã V1.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Bị cáo H đã không làm hết chức trách nhiệm vụ của mình, bị cáo Đ đã không thực hiện hết trách nhiệm và nhiệm vụ của mình trong việc kiểm tra sử dụng đất, không phát hiện ngăn chặn kịp thời các trường hợp vi phạm về lĩnh vực đất đai trong nhiều năm trên địa bàn, các bị cáo đã để cho cán bộ của 04 thôn (Kim H4, Y, Nghĩa Trang và Hoàng L1) có hành vi bán đất trái thẩm quyền với tổng diện tích là 55.990,02m² gây thiệt hại cho nhà nước 6.487.698.720đ (Sáu tỷ, bốn trăm tám bảy triệu, sáu trăm chín tám nghìn, bảy trăm hai mươi đồng). Đến nay một số diện tích đất đã được người dân san lấp, xây dựng nhà, xưởng. Sự việc diễn ra trong thời gian dài nhưng không có biện pháp để tham mưu, giải quyết, xử lý làm mất sự quản lý của Nhà nước đối với một số diện tích đã bán.

4- Phân hoá tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo trong vụ án để có cơ sở áp dụng mức hình phạt cho phù hợp. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với bị cáo Đào Duy H nguyên là chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, là người đứng đầu Uỷ ban xã, là người chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý đất đai tại địa phương; Còn đối với bị cáo Bì Quốc Đ là công chức địa chính - xây dựng của xã có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc quản lý đất đai tại địa phương. Do đó, trách nhiệm cũng như hình phạt của bị cáo H sẽ cao hơn hình phạt của bị cáo Đ là phù hợp.

5- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo HĐ đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả và có thân nhân là người có công với các mạng; Cả 2 bị cáo trong quá trình công tác có nhiều thành tích được tặng Giấy khen nên đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo H là người có công với cách mạng, có thành tích xuất sắc trong công tác nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm v, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét đề xuất của đại diện Viện kiểm sát và nhân thân của các bị cáo thìthấy:Các bị cáo HĐ đềuthành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, tự nguyện khắc phục hậu quả, có nhiều thành tích trong công tác, bị cáo H là người có công với cách mạng, bị cáo Đ và bị cáo H được Ủy ban nhân dân phường V1 có văn bản xin cho các bị cáo vì đã có nhiều thành tích và đóng góp cho công tác xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Do các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà chỉ cần áp dụng khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, cho các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự quản lý - giám sát của Ủy ban nhân dân phường V1 cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

6- Về hình phạt bổ sung: Quátrình điều tra và tại phiên toà xác định các bị cáo không có ý thức tư lợi cá nhân, cũng không được hưởng lợi gì từ việc để cho Bí thư chi bộ và Trưởng thôn của 04 thôn (K, Y, Nghĩa Trang và Hoàng L1)có hành vi bán đất, giao đất và đấu thầu trái thẩm quyền cũng như xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo tại thời điểm hiện tại cũng không gây nguy hại cho xã hội nên sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Đối với Bí thư Đảng ủy, Thường vụ, Đảng ủy viên phụ trách thôn: Ông Nguyễn Tiến N1 - Bí thư Đảng ủy và là Thường vụ Đảng ủy phụ trách thôn Y; T - Thường vụ Đảng ủy được giao phụ trách thôn K; Đặng Văn T4 - Thường vụ Đảng ủy phụ trách thôn H; Trần Văn T5 - Đảng ủy viên phụ trách thôn K,Vương Văn T6 - Đảng ủy viên phụ trách thôn H; Đào Thiện V - nguyên Đảng ủy viên phụ trách thôn N; Lê Quang Q - Đảng ủy viên phụ trách thôn Y.Với vai trò của Bí thư là thiếu kiểm tra, giám sát; Thường vụ phụ trách và Đảng viên phụ trách chưa sát sao, thường xuyên kiểm tra hoạt động của Ban Chi ủy và Chi bộ thôn trong việc triển khai và thực hiện nghị quyết Đảng cấp trên nên để xảy ra việc các thôn bán đất trái thẩm quyền. Tuy nhiên những đối tượng này đã không làm hết trách nhiệm tư cách của Đảng viên, đây chỉ là hành vi vi phạm Điều lệ Đảng. Theo quy định của Điều lệ Đảng, các hình thức xử lý Đảng viên vi phạm không có trường hợp nào là khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy sẽ không xem xét trách nhiệm hình sự mà kiến nghị với cấp có thẩm quyền xem xét xử lý theo quy định của Đảngvề việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của Đảng viên đối với các ôngNguyễn Tiến Nghị, Trần Quốc H5, Đặng Văn T4, Trần Văn T5,Vương Văn T6, Đào Thiện V, Lê Quang Q là phù hợp với quy định.

* Đối với Lê Thị L2 - Cán bộ địa chính 2 và anh Đặng Văn S - Địa chính từ 2018-2021:Đối với chị Lê Thị L2 là địa chính 2 - Phụ trách công tác trong lĩnh vực môi trường, nông nghiệp không phải là người chịu trách nhiệm tham mưu cho Uỷ ban nhân dân xã trong việc quản lý đất đai nên không nắm được việc các thôn đã bán đất trái thẩm quyền nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đảm bảo và phù hợp với quy định; Còn đối với anh Đặng Văn S tại thời điểm làm công tác địa chính thì các thôn đã dừng việc bán đất trái thẩm quyền và không liên quan nên cơ quan điều tra không xem xét và xử lý là phù hợp.

* Đối với vật chứng, tài liệu thu giữ:Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã quản lý của Ủy ban nhân dân phường V1Đảng Ủy phường P các sổ Nghị Quyết, sổ công văn đi phục vụ công tác điều tra. Ngày 07/6/2024 Cơ quan điều tra đã sao lại toàn bộ tài liệu nói trên và trả lại bản gốc cho Ủy ban nhân dân phườngĐảng ủy phường V1 là đảm bảo, nay không có đề nghị gì về vấn đề này nên không cần đặt ra để giải quyết.

* Đối với số tiềnngày 27/6/2024 các bị cáo đã tự nguyện nộpvào ngân sách nhà nướctrong giai đoạn truy tố nhằm khắc phục một phần hậu quả, cụ thể:Bị cáo Đào Duy H nộp số tiền 50.000.000đ (theo biên lai số 0002257 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào) và bị cáo Bì Quốc Đ nộp số tiền 40.000.000đ (theo biên lai số 0002258 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào).Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù các bị cáo không được hưởng lợi gì từ việc 04 thôn đã bán đất, giao đất, đấu thầu trái thẩm quyền nhưng các bị cáo đã tự nguyện nộp một khoản tiền nhất định để khắc phục một phần hậu quả thiệt hại đã xảy ra. Đây là sự tự nguyện và thể hiện trách nhiệm của các bị cáo để khắc phục một phần hậu quả thiệt hại đã xảy ra nên sẽ ghi nhận sự tự nguyện này để sung vào ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo đã nộp theo các biên laisố 0002257 và số 0002258 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào.

7- Về án phí: Các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩmtheo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:Khoản 1 Điều 285 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo HĐ; Áp dụng thêm điểm v, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo H.

* Tuyên bố: Các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ2 phạm tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng".

* Xử phạt:

  1. 1- Bị cáo Đào Duy H 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  2. 2- Bị cáo Bì Quốc Đ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ cho Ủy ban nhân dân phường V1, thị xã M, tỉnh Hưng Yên để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án này. Gia đình các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật thi hành án hình sự nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã, phường, thị trấn đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, thị xã, thành phố tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  • * Sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Đào Duy H số tiền 50.000.000đ(Năm mươi triệu đồng), của bị cáo Bì Quốc Đ số tiền 40.000.000đ(Bốn mươi triệu đồng)theo các biên laisố 0002257và số 0002258 ngày 27/06/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào.
  • * Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đào Duy HBì Quốc Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phíhình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, Toà đã báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Mỹ Hào;
  • - Cơ quan CSĐT-CA thị xãMỹ Hào;
  • - Cơ quan T.H.A HS-CA thị xã Mỹ Hào;
  • - Chi cục T.H.A DS thị xã Mỹ Hào;
  • - Phòng KTNV và T.H.A - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hưng Yên;
  • - UBKT thị uỷ Mỹ Hào;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu HS vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trương Thế Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HSST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN về thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 69/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Duy H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger