TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 69/2024/HS-PT Ngày 07-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Nâu.
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Hà Giang;
2. Ông Nguyễn Việt Hùng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 07/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 282/TLPT-HS ngày 19/10/2023 đối với bị cáo Hoàng Thị T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã ) V, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo kháng cáo
Hoàng Thị T, sinh năm 1981; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Con ông: Hoàng Văn N; Con bà: Hứa Thị G; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Vi Văn K; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2022 đến ngày 19/01/2023 áp dụng biện pháp bảo lĩnh tại ngoại, hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có một số người tham gia tố tụng khác nhưng do không có kháng cáo và kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/10/2022, Công an xã V, huyện V thực hiện việc kiểm tra tạm trú đối với các cơ sở kinh doanh, nhà nghỉ, nhà trọ trên địa bàn xã. Tiến hành kiểm tra tạm trú đối với công dân sinh sống tại cửa hàng “N" thuộc thôn V, xã V, huyện V do bị cáo Hoàng Thị T thuê. Phát hiện tại khu vực bếp của cửa hàng 01 thùng bìa cattong bên trong thùng bìa cattong chứa 12 khối hình hộp nghi là pháo nổ. Mỗi khối hình hộp có vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, gắn dây màu xanh. Kích thước của mỗi khối hình hộp là (15x15x15)cm. Cân trọng lượng 12 khối là khoảng 17kg. Cùng ngày 07/10/2022, Công an xã V đã bàn giao vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V để tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
Cùng ngày 07/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã khám xét khẩn cấp tại ki ốt gia đình bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 ở thôn V, xã V, huyện V đã cho Tạ Hồng T1, số CMND [...] ở V, M, H, Lạng Sơn thuê ngày 05/10/2022, thu giữ 377 thùng bìa cattong bên trong mỗi thùng chứa 12 khối hình hộp (nghi là 12 bệ pháo loại 36 quả); tổng cộng có 4524 khối hình hộp. Mỗi khối hình hộp có vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, gắn dây màu xanh. Khi cân bằng cân đồng hồ trọng lượng mỗi thùng bìa cattong là khoảng 17kg. Tổng trọng lượng 377 thùng có chứa 4524 khối hình hộp là khoảng 6409kg. Bà X đã giao nộp 01 Hợp đồng thuê nhà do Tạ Hồng T1 ký bên thuê.
Ngày 07/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tạ Hồng T1 tại thôn V, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả không thu giữ gì.
Ngày 08/10/2022, bị cáo Hoàng Thị T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đầu thú về hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo. T giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor X30i, có số IMEI: 866967064561098 và 866967065055975.
Ngày 14/10/2022, ông Nguyễn Quang T2, sinh năm 1988 ở thôn V, xã V, huyện V giao nộp 01 hợp đồng thuê nhà do Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991 ở xã M, H, L thuê (là quán “Ngọc Thanh Q”).
Ngày 18/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V tiến hành khám xét nơi ở của Hoàng Thị T tại cửa hàng “Ngọc Thanh Q” thuộc thôn V, xã V, huyện V và nơi ở của Ngô Tuấn A thuê của anh Đoàn Thế H1, sinh năm 1987 ở thôn V, xã V, huyện V. Kết quả không thu giữ gì.
Ngày 11/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã trưng cầu Phòng K2- Công an tỉnh B giám định mẫu vật thu giữ trong quá trình kiểm tra hành chính cửa hàng “Ngọc Thanh Q” và thu khi khám xét khẩn cấp nơi thuê trọ của Tạ Hồng T1 xác định có phải là pháo không, loại pháo gì, khối lượng bao nhiêu.
Tại Bản kết luận giám định số 1850/KL-KTHS ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Phòng K2- Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 thùng bìa cattong dạng khối hình hộp chữ nhật đã được niêm phong gửi giám định: 12 (mười hai) khối hình hộp, mỗi khối đều có kích thước (15x15x15)cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, gắn dây màu xanh, bên trong gồm 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau đều là Pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 17,0kg (mười bẩy phẩy không ki lô gam).
- Trong 377 thùng bìa cattong dạng khối hình hộp chữ nhật được đánh số từ 01 đến 377 đã được niêm phong gửi giám định: 4524 (bốn nghìn năm trăm hai mươi bốn) khối hình hộp, mỗi khối đều có kích thước (15x15x15)cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, gắn dây màu xanh, bên trong gồm 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau đều là Pháo hoa nổ, có tổng khối lượng khoảng 6480,4 kg (sáu nghìn bốn trăm tám mươi phẩy bốn kilogam).
Ngày 26/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V trưng cầu Viện khoa học hình sự- Bộ C giám định kỹ thuật số và điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Honor X30i, có số IMEI: 866967064561098; 866967065055975 (ký hiệu giám định A1) thu giữ của Hoàng Thị T; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, có số IMEI: 355841080770389 (ký hiệu giám định A2); chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 promax, có số IMEI 1: 352842112416291, số IMEI 2: 352842112326516 (ký hiệu giám định A3) thu giữ của Ngô Tuấn A.
Tại Kết luận giám định số 7243/KL-KTHS ngày 13/02/2023 của V- Bộ C kết luận: Trong điện thoại di động của Hoàng Thị T tìm thấy 30 tin nhắn SMS, 301 tin nhắn Telegram, 27 tin nhắn Wechat, 1487 tin nhắn zalo, 54669 file ảnh lưu trữ trong máy điện thoại, được lưu trữ trong một USB. Trong điện thoại di động của Ngô Tuấn A ký hiệu A2 tìm thấy 123 tin nhắn SMS, 37 Email, 178 tin nhắn Face book M, 23811 file ảnh lưu trữ trong máy điện thoại, được lưu trữ trong một USB. Trong điện thoại di động của Ngô Tuấn A ký hiệu A3 tìm thấy 6186 tin nhắn SMS, 41 tin nhắn Tiktok, 691 tin nhắn Wechat, 113132 tin nhắn zalo, 19848 file ảnh lưu trữ trong máy điện thoại, được lưu trữ trong một USB.
Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã tiến hành làm việc với bị cáo Hoàng Thị T kiểm tra dữ liệu được trích xuất khôi phục theo Kết luận giám định số 7243/KL-KTHS ngày 13/02/2023 của V Bộ C. Kết quả bị cáo T cho biết trong 27 tin nhắn Wechat, có 17 đoạn tin nhắn thoại bằng tiếng Trung Quốc, giữa bị cáo T và người đàn ông Trung Quốc nói chuyện với nhau về việc đóng gói hàng pháo mang qua cửa khẩu.
Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã trưng cầu dịch thuật đối với 17 đoạn tin nhắn thoại. Kết quả: Ông Nguyễn Sỹ T3, sinh năm 1982, trú quán thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang là công tác viên dịch thuật tiếng nước ngoài của Văn phòng công chứng Thiên Long tỉnh B. Địa chỉ phường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã dịch thuật 17 đoạn tin nhắn thoại nêu trên có nội dung thể hiện việc “đặt làm vỏ hộp sao cho không bị lộ hàng trong quá trình vận chuyển, kiểm tra khi qua cửa khẩu”.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được xác định: Ngày 05/10/2022, Tạ Hồng T1 thuê ki ốt của gia đình bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 ở thôn V, xã V, huyện V làm kho chứa hàng. Chiều ngày 05/10/2022, T1 gọi điện cho Ngô Tuấn A thuê hộ xe nâng để đêm xuống hàng, Tuấn A đồng ý. Sau đó, Tuấn A gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã V, huyện V làm nghề lái xe nâng, thuê anh K1 đêm cùng ngày xuống hàng, anh K1 đồng ý.
Đêm ngày 05/10/2022 rạng sáng ngày 06/10/2022, anh Đoàn Cao T4, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Y, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 35C- 103.05, kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 35R- 010.53 chở hàng là quả táo tươi được đóng thành palet từ cửa khẩu Quốc tế L về tại kho T1 thuê ở thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, T1 thuê Đ ở trên thùng xe đẩy các palet hàng ra cửa thùng xe ô tô, để anh K1 điều khiển xe nâng, vận chuyển các palet có các thùng bìa cattong trên xe ô tô của anh T4 chở đến, cất vào trong kho hàng của T1, Tuấn A là người hướng dẫn anh K1 xếp hàng vào trong kho cho gọn. Quá trình vận chuyển hàng, từ trên xe ô tô cất vào trong kho, T1 nói cho Tuấn A biết hàng vận chuyển cất giấu trong kho, ngoài quả táo tươi, còn có cả pháo nhưng Tuấn A vẫn làm giúp T1. Khi trên xe ô tô còn khoảng 4 đến 5 palet hàng, T1 bảo với Đ và anh K1 dừng lại không chuyển hàng xuống nữa, T1 nhờ Tuấn A trả tiền công cho anh K1, Tuấn A trả 3.000.000 đồng cho anh K1.
Sau đó, theo anh T4 khai được một nam thanh niên bảo chở số hàng còn lại về huyện T, thành phố Hà Nội, anh T4 tiếp tục điều khiển xe ô tô điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 35C- 103.05, kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 35R- 010.53 chở số hàng trên về huyện T, thành phố Hà Nội giao ở huyện T, thành phố Hà Nội địa chỉ cụ thể anh không nhớ. Đến chiều tối ngày 06/10/2022, T1 cùng với Hoàng Văn Đ1 chở một thùng pháo 17,0kg từ kho thôn V, xã V, huyện V đến gửi tại cửa hàng “Ngọc Thanh Q” ở thôn V, xã V, huyện V do Hoàng Thị T làm chủ.
Ngày 07/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã khám xét khẩn cấp tại ki ốt gia đình bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 ở thôn V, xã V, huyện V mà T1 thuê, thu giữ: 377 thùng bìa cattong bên trong mỗi thùng chứa 12 khối hình hộp (nghi là 12 bệ pháo loại 36 quả); tổng cộng có 4524 khối hình hộp. Mỗi khối hình hộp có vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, gắn dây màu xanh, tổng trọng lượng là khoảng 6409kg (sáu nghìn bốn trăm tám mươi phẩy bốn kilogam), thì lần lượt có Hoàng Thị T, Hoàng Văn Đ1, Ngô Tuấn A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đầu thú. Cụ thể lời khai của các bị cáo như sau:
Bị cáo Hoàng Thị T tại cơ quan điều tra và truy tố khai: Năm 2019, T quen biết với Tạ Hồng T1, khoảng tháng 9/2022, T1 nhờ T liên hệ với người quen mua hộ khoảng 15 (mười năm) tấn táo quả tươi từ Trung Quốc rồi vận chuyển về Việt Nam bán kiếm lời và T đồng ý. Sau đó, T liên hệ với một người đàn ông Trung Quốc mà T quen biết từ trước mua hộ quả táo tươi cho T1. Sau chuyến hàng này, T1 đến gặp và nói với T về việc chuyến hàng táo quả tươi vận chuyển từ cửa khẩu quốc tế L về địa bàn huyện V, tỉnh Bắc Giang không bị cơ quan chức năng nào kiểm tra, T1 nhờ T đặt mua cho khoảng 500 (năm trăm) thùng pháo, mỗi thùng đóng 12 (mười hai) bệ pháo, loại pháo là loại 36 (ba mươi sáu) quả/01 (một) bệ để vận chuyển về huyện V. T1 hứa cho T một số tiền, T đồng ý.
Khoảng cuối tháng 9/2022, T sử dụng chiếc điện di động nhãn hiệu Honor X30i vào ứng dụng Wechat để liên lạc với người đàn ông Trung Quốc quen biết nêu trên, đặt mua pháo cho T1, hai bên thống nhất mua, bán số lượng pháo khoảng 500 thùng với số tiền 345.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi năm triệu đồng), T thống nhất với người đàn ông Trung Quốc khi nào pháo sang đất Việt Nam, người đàn ông Trung Quốc sẽ nhắn tin cho T biển số xe vận chuyển pháo, T sẽ chuyển tiền cho người đàn ông Trung Quốc, trong cuộc hội thoại với người đàn ông Trung Quốc, có nội dung T bảo với người này: Đặt làm vỏ hộp sao cho không bị lộ hàng trong quá trình vận chuyển, kiểm tra khi qua cửa khẩu, người đàn ông Trung Quốc đồng ý, tin nhắn thoại giữa T với người đàn ông Trung Quốc bán pháo, T đã xóa do sợ bị phát hiện, tài khoản Wechat của T và người đàn ông Trung Quốc, T không nhớ.
Khoảng ngày 03/10/2022, T nhận được tin nhắn của người đàn ông Trung Quốc báo biển số xe, chở pháo của Trung Quốc đang ở bãi trung chuyển hàng hóa V1 thuộc cửa khẩu quốc tế L, sau khi nhận được thông tin này T nói lại cho T1 biết, để T1 có trách nhiệm vận chuyển hàng về huyện V, T1 nhờ T trả tiền mua pháo cho người đàn ông Trung Quốc.
Ngày 05/10/2022, T gọi điện thoại cho Ngô Tuấn A đòi nợ số tiền 220.000.000 đồng và bảo Tuấn A cho vay 125.000.000 đồng, Tuấn A đồng ý. T bảo Tuấn A chuyển số tiền 345.000.000 đồng vào tài khoản của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982, trú tại: K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (làm nghề dịch vụ chuyển tiền, đổi tiền ở Cửa khẩu T8, tỉnh Lạng Sơn). Sau đó, T cung cấp số tài khoản của người Trung Quốc cho chị H, để chị H đổi thành tiền Trung Quốc rồi chuyển đến số tài khoản của người đàn ông Trung Quốc mà T cung cấp. Sau đó, T nói cho T1 biết đã trả tiền mua Pháo.
Đến chiều tối ngày 06/10/2022, T đang ở cửa hàng “Ngọc Thanh Q” ở thôn V, xã V thì thấy T1 chở theo Hoàng Văn Đ1 đến cửa hàng, Đại ôm một thùng bìa cattong để vào trong khu vực bếp của cửa hàng. Khoảng 22 giờ cùng ngày 06/10/2022, T1 gọi điện cho T nói để nhờ một thùng pháo (chính là thùng bìa cattong mà Đại để ở khu vực bếp) và T đồng ý.
Ngày 07/10/2022, Công an xã V, huyện V kiểm tra tạm trú tại cửa hàng “Ngọc Thanh Q” của Hoàng Thị T thu giữ: T5 tại khu vực bếp của cửa hàng 01 thùng bìa cattong bên trong thùng bìa cattong chứa 12 khối hình hộp nghi là pháo nổ. Mỗi khối hình hộp có vỏ bọc giấy nhiều màu sắc, gắn dây màu xanh. Kích thước của mỗi khối hình hộp là (15x15x15)cm. Cân trọng lượng 12 khối là 17kg.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo T thay đổi lời khai không thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng nêu và như đã khai tại cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.
Bị cáo Ngô Tuấn A khai: Tuấn A có quan hệ quen biết với anh Hoàng Văn Đ2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, do Tuấn A làm thuê cho anh Đ2 tại quán K3 có địa chỉ tại C chợ mới M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Sáng ngày 05/10/2022, anh Đ2 gọi điện cho Tuấn A bảo Tạ Hồng T1 là người quen của Đ2 (Tuấn A cũng đã gặp và biết T1 khi T1 xuống làm ăn) đến làm ăn mở kho bán hoa quả tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang có gì thì đến giúp T1 và Tuấn A đồng ý.
Chiều ngày 05/10/2022, T1 gọi điện thoại cho Tuấn A nhờ thuê xe nâng cho T1 để đêm xuống hàng, Tuấn A đồng ý. Sau đó, Tuấn A thuê anh Nguyễn Văn K1 điều khiển xe nâng xuống hàng. Khoảng 23 giờ, ngày 05/10/2022, T1 gọi điện thoại cho Tuấn A, thông báo xe hàng chuẩn bị về và chỉ cho Tuấn A địa điểm kho hàng T1 thuê để xe nâng đến.
Sau đó, Tuấn A đã liên hệ với anh K1 chỉ địa điểm đến là thôn V, xã V, huyện V. Cùng lúc này, Tuấn A điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Innova, biển kiểm soát 98A- 061.30 (xe này do anh Hoàng Văn Đ2 thuê của anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1972, trú tại: Số nhà A, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để vận chuyển đồ từ quán K3 về thôn V, xã V, huyện V) từ quán K3 có địa chỉ tại C chợ mới M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến khu vực kho hàng của T1 thuê. Khi đến nơi, Tuấn A thấy T1, Hoàng Văn Đ1, xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 35C-103.05, kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 35R- 010.53 đang đỗ, T1 mở cửa thùng hàng trên rơ mooc, Tuấn A thấy bên trong là các thùng bìa cattong có hình quả táo, chữ Trung Quốc ở ngoài vỏ bìa. Khoảng 05 phút sau, anh K1 điều khiển xe nâng đến, T1 bảo Tuấn A hướng dẫn anh K1 nâng hạ hàng để trong kho cho gọn, còn Đ1 lên thùng xe đẩy các palet hàng ra khu vực cửa thùng xe, để anh K1 dùng xe nâng vận chuyển hàng xuống xếp vào trong kho. Lúc này, Tuấn A hỏi T1 là “Sao nhiều hàng thế”, T1 trả lời là “Trong đó có cả pháo”.
Khi xuống được khoảng 03 (ba) đến 04 (bốn) pallet hàng (pallet gỗ đóng khung các thùng bìa cattong lại với nhau). Lúc này, có xe ô tô biển kiểm soát 98A- 414.24 do anh Hoàng Văn N1, sinh năm 1988, trú tại thôn V, xã V, huyện V điều khiển đi đến, T1 bảo Tuấn A bốc mấy thùng pháo lên xe ô tô cho anh N1, T1 hướng dẫn Tuấn A bốc các thùng từ hàng thứ hai trở xuống vì đó là các thùng pháo, còn các thùng hàng ở lượt đầu là táo quả tươi. Tuấn A bốc được khoảng 08 (tám) đến 09 (chín) thùng pháo lên xe ô tô, T1 bảo không bốc nữa, sau đó anh N1 điều khiển xe đi (đi đâu Tuấn A không rõ). Tuấn A quan sát có khoảng 10 (mười) palllet được vận chuyển vào để trong kho. Sau khi hạ số hàng hóa trên thùng xe trên vào trong kho. Lúc này, còn lại Tuấn A, T1 và anh K1 đứng ở cửa kho, anh K1 nói với Tuấn A muốn mua một thùng hàng, Tuấn A nói lại với T1, T1 trả lời là “Cho luôn một thùng”, T1 vào bê một thùng táo để lên xe nâng, anh K1 bảo muốn mua thùng pháo và chỉ tay vào một pallet hàng có chứa một thùng cattong bị rách lộ ra bên trong là bệ pháo, loại 36 (ba mươi sáu) quả/01 (một) bệ. Tuấn A nói không quyết được. T1 đứng gần nghe vậy bảo “Không” và đóng cửa kho. T1 bảo Tuấn A trả tiền công cho anh K1 giúp T1, thì Tuấn A trả cho người lái xe nâng 3.000.000 đồng.
Đến khoảng 21 giờ, ngày 06/10/2022, T1 gọi điện cho Tuấn A sang kho để chở hộ mấy thùng hoa quả cho người tên T6 là anh của T1. Tuấn A điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Innova, biển kiểm soát 98A- 061.30 đến kho hàng gặp T1; T1 bảo Tuấn A chở cho anh T6 là người quen của T1 03 (ba) thùng táo, đến khu vực gần cuối đường đi từ cầu vượt Đ đi về phía huyện Y để vợ anh T6 bán và Tuấn A đồng ý. Sau đó, Tuấn A vẫn ngồi trên xe ô tô còn T1 và Đại bê bao nhiêu thùng táo lên xe ô tô cho Tuấn A thì Tuấn A không rõ. Sau đó, T1 cho Tuấn A số điện thoại của anh T6 để liên lạc giao hàng, khi Tuấn A giao hàng cho anh T6 thì anh T6 tự bốc hàng, còn Tuấn A vẫn ngồi trên xe ô tô. Sau khi giao hàng xong cho anh T6, Tuấn A điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A- 061.30 về để ở khu vực sân ở Đ làng V thuộc địa phận thôn V, xã V, huyện V, chìa khóa xe ô tô thì để ở cửa hàng “Ngọc Thanh Q” của Hoàng Thị T ở thôn V, xã V, huyện V.
Khoảng 10 giờ ngày 07/10/2022, anh Hoàng Văn T7, sinh năm 1983, trú tại thôn B, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn gọi điện thoại cho Tuấn A hỏi mượn xe ô tô 98A- 061.30 đi có việc và Tuấn A đồng ý. Khi anh T7 chuẩn bị điều khiển xe đi thì Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V có giấy mời làm việc, anh T7 điều khiển xe đến Công an huyện V làm việc và giao nộp xe.
Ngày 08/10/2022, anh Đ2 gọi điện rủ Tuấn A đến địa bàn huyện T, thành phố Hà Nội uống rượu, Tuấn A đi tắc xi đến địa bàn huyện T, thành phố Hà Nội uống rượu với anh Đ2, Tuấn A, T1 và Đ1. Trong bữa ăn, không ai nói chuyện gì liên quan đến pháo. Chiều ngày 09/10/2022, Tuấn A cùng với T1, anh Trần Quang B, sinh năm 1985, trú tại: Ngõ A, đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, Đ1 lên chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Seltos, biển kiểm soát 12A- 168.15, để anh B chở về Lạng Sơn trả xe ô tô cho chị Nguyễn Thị B1, sinh năm 1996, trú tại: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, khi mọi người đang trên xe T1 hô có người đuổi, T1, anh B bỏ chạy, còn Tuấn A và Đ1 nhận giấy triệu tập của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V. Tuấn A đã điều khiển xe ô tô trên về Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V làm việc, Cơ quan điều tra đã tạm giữ chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Seltos biển kiểm soát 12A- 168.15.
Ngày 13/10/2022, Tuấn A đầu thú với Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V giao nộp: 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, có số IMEI: 355841080770389; 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 promax, có số IMEI 1: 352842112416291, số IMEI 2: 352842112326516.
Bị cáo Hoàng Văn Đ1 khai: Ngày 03/10/2022, Đại từ quê xuống huyện V Bắc Giang để tìm việc, tại đây Đ1 gặp Tạ Hồng T1 là người quen từ trước, T1 rủ ở lại nhà người quen chơi để tìm việc, Đại đồng ý. Sau đó, Đ1 đến ở cùng T1 tại quán trà sữa, nước giải khát “Ngọc Thanh Q” của Hoàng Thị T thuê ở V, V. Đến đêm ngày 05 rạng sáng ngày 06/10/2022, Đ1 được T1 gọi bảo đi bốc hàng cho T1, Đ1 đi đến kho T1 thuê là ki ốt gia đình bà Nguyễn Thị X ở thôn V. Khi đến đã có xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 35C- 103.05, kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 35R- 010.53 đang dừng đỗ, xe nâng đang chờ sẵn, T1 bảo Đ1 lên thùng xe ô tô trên rơ mooc, để đẩy các palet hàng là các thùng bìa cattong có hình quả táo, chữ Trung Quốc ở ngoài vỏ bìa ra gần cửa, để xe nâng vận chuyển các palet hàng vào trong kho, khi người điều khiển xe nâng chuẩn bị xuống hàng thì Tuấn A đến. Đ1 cùng với người lái xe nâng vận chuyển khoảng 10 palet hàng để vào trong kho thì T1 bảo dừng lại không xuống hàng nữa, lúc này trên thùng xe còn khoảng 04 đến 05 pallet hàng. Sau khi xuống hàng, Đ1 một mình về quán “Ngọc Thanh Q” ngủ, tại kho khi Đ1 về vẫn còn T1, Tuấn A và người điều khiển xe nâng ở đó, T1 trả cho Đ1 300.000 đồng công bốc hàng sau khi T1 về phòng trọ.
Sáng ngày 06/10/2022, T1 bảo Đ1 chuyển đến ở nhà trọ do T1 thuê của anh Đoàn Thế H1, sinh năm 1987 ở thôn V, xã V, huyện V. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày 06/10/2022, T1 bảo Đ1 đến kho bốc hàng, khi Đ1, T1 đến kho hàng đã thấy Ngô Tuấn A ngồi trong xe ô tô 98A-061.30 đợi ở cửa kho hàng, Tuấn A bảo Đ1 dỡ một ba lét hàng lấy 04 (bốn) thùng hàng theo chiều từ trên xuống dưới rồi mang ra để lên xe ô tô cho Tuấn A, khi Đ1 bốc hai thùng hàng trên cùng thấy nhẹ, mềm, bị xô chỉ khoảng 9kg đến 10 kg, hai thùng bên dưới nặng khoảng 17kg đến 18kg và cứng, miệng thùng dán băng dính không kín hết, nhìn vào thấy vỏ giấy màu vàng nên Đ1 nghĩ hai thùng này không phải là táo, lúc bốc vác các thùng này bị cáo không biết là pháo. Trong quá trình, từ khi Đ1 và T1 đến kho hàng, bốc hàng lên xe ô tô cho Tuấn A, thì Tuấn A chỉ ngồi trên xe ô tô. Sau đó, Tuấn A điều khiển xe đi. Lúc này, T1 bảo Đ1 lấy một thùng pháo để trong kho, để mang về quán chị T để mai T1 mang đi làm quà nên Đ1 đã lấy một thùng pháo, rồi ngồi phía sau xe mô tô ôm thùng pháo T1 chở Đ1 về quán T9, nước giải khát “Ngọc Thanh Q”, Đại bê thùng pháo để tại phòng bếp của quán.
Đến đêm ngày 06/10/2022, T1 về phòng nói với Đ1 là Công an đã để ý kho hàng, sáng ngày 07/10/2022, Đ1 thấy T1 có điện thoại, sau đó T1 nói với Đ1 “Có biến rồi, em phải đi đây”. Lúc này, Đ1 biết lực lượng Công an đã phát hiện có pháo trong kho hàng và T1 đi trốn, trước khi đi T1 đưa cho Đ1 01 (một) chiếc điện thoại Nokia có sẵn sim bảo ai gọi thì nghe và bảo Đ1 đến Nhà nghỉ 123 ở thị trấn T, huyện T, thành phố Hà Nội ở đó. Sau đó, Đ1 gọi điện thoại cho anh Trần Quang B, sinh năm 1985, trú tại: Ngõ A, đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định bảo anh B cho đi nhờ ra Hà Nội, anh B đồng ý, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Seltos biển kiểm soát 12A- 168.15 chở Đ1 đến nhà nghỉ A1 ở thị trấn T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tại đây, Đ1 gặp T1, Tuấn A, anh Hoàng Văn Đ2, cả nhóm ăn ngủ tại nhà nghỉ ở thị trấn T. Đến chiều ngày 09/10/2022, khi cả nhóm gồm: Đ1, T1, Tuấn A, anh Hoàng Văn Đ2, anh Trần Quang B chuẩn bị đi ra ngoài thì lực lượng Công an huyện V phối hợp Công an địa phương đến và gửi giấy triệu tập thì có Đ1, Tuấn A nhận giấy triệu tập về Công an huyện V làm việc, còn T1, anh Hoàng Văn Đ2, anh Trần Quang B bỏ chạy.
Ngày 11/10/2022, Đ1 đầu thú với Cơ quan CSĐT- Công an huyện V giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh có số sê-ril: 358885075100687, số sê-ri 2: 358885075100695.
Tại Bản Cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố các bị cáo Hoàng Thị T, Ngô Tuấn A, Hoàng Văn Đ1 về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Bị cáo T, Tuấn A theo điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự và bị cáo Đ1 theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã V), đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 3 và khoản 4 Điều 191; khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 09/10/2022 đến ngày 19/01/2023.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Hoàng Thị T 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/9/2023, bị cáo Hoàng Thị T kháng cáo bản án với nội dung: Bản án xét xử bị cáo đối với tội danh và mức án như trên là không đúng.
Trong thời hạn xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Lý do là vì trong quá trình xét xử tại cấp phúc thẩm bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã 02 lần lập công chuộc tội và được cơ quan Công an tỉnh H và Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh có văn bản xác nhận sự việc trên; ngoài ra bị cáo còn ủng hộ 5.000.000₫ vào quỹ UBND xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn ngày 10/11/2021 để phòng chống dịch Covid 19 và đã nộp 15.000.000 đồng tiền phạt bổ sung, 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã V), đã quyết định.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia tiến hành tố tụng tại phiên toà phúc thẩm, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị T đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng của bị cáo Hoàng Thị T:
- - Sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo từ 08 năm 06 tháng tù xuống 05 năm tù.
- - Về kháng cáo xin được hưởng án treo: Do bị cáo phạm tội được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 BLHS thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo có có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; bị cáo đang phải nuôi con nhỏ cùng với bố mẹ già và bị cáo thường xuyên đau ốm, phải đi chữa bệnh nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình, cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ vụ án, lời khai của các bị cáo Ngô Tuấn A, Hoàng Văn Đ1, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản người phạm tội ra đầu thú, vật chứng thu giữ và kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận của V-Bộ C, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng cuối tháng 9/2022, sau khi được Tạ Hồng T1 nhờ T mua hộ Pháo; bị cáo Hoàng Thị T đã liên lạc với người đàn ông Trung Quốc mua pháo hoa nổ, có tổng khối lượng khoảng 6497,4 kg với giá 345.000.000 đồng hộ T1. Đêm ngày 05/10/2022, rạng sáng ngày 06/10/2022 sau khi mua được pháo hoa nổ, T1 cùng Ngô Tuấn A cất giấu số pháo hoa nổ trên tại tại ki ốt thuê của gia đình bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 ở thôn V, xã V, thị xã V. Đến khoảng 18 giờ ngày 06/10/2022, T1 cùng với bị cáo Hoàng Văn Đ1 mang 17,0 kg pháo hoa nổ gửi tại cửa hàng “Ngọc Thanh Q” của bị cáo Hoàng Thị T ở thôn V, xã V, huyện V. Đến ngày 07/10/2022 Công an xã V tiến hành kiểm tra hành chính, khẩn cấp phát hiện thu giữ vật chứng liên quan.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo T thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nhưng tại phiên tòa bị cáo T không thừa nhận hành vi tàng trữ pháo như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố. Tuy nhiên, căn cứ các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo khác và diễn biến tại phiên tòa, Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HSST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) V đã xét xử bị cáo Hoàng Thị T về tội "Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự là có căn cứ nên tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Hoàng Thị T thừa nhận về tội danh nêu trên và không có ý kiến tranh luận hay thắc mắc gì.
[2]. Xét về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Các bị cáo biết rõ pháo là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất kinh doanh, một số loại hàng cấm. Hành vi của các bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Vì vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất và tính chất mức độ hành vi của bị cáo đã tham gia để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[3]. Xét về vị trí, vai trò của bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết, phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho từng người. Đối tượng Tạ Hồng T1 trong vụ án có vai trò chính trong vụ án nhưng hiện nay T1 đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, chính quyền địa phương, gia đình T1 không biết T1 đang ở đâu. Ngày 24/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thị xã V đã ra Quyết định truy nã đối với T1 đến nay chưa bắt được nên ngày 10/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định tách vụ án đối với hành vi của T1 ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào bắt được xử lý sau. Nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét xử lý đối tượng Tạ Hồng T1 trong vụ án này là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với bị cáo Hoàng Thị T là người giúp sức cho Tạ Hồng T1 trong việc trao đổi, đặt mua pháo của người đàn ông Trung Quốc, chuyển tiền mua pháo nên bị cáo có vai thứ yếu, giúp sức cho T1.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Thị T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài các yếu tố định tội và định khung hình phạt, bị cáo Hoàng Thị T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị T thay đổi nội dung từ việc không thừa nhận hành vi của mình đã thực hiện, chuyển sang kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Lý do bị cáo trình bày là vì trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo đã 02 lần lập công chuộc tội và được cơ quan Công an tỉnh H và Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh có văn bản xác nhận sự việc trên nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS; ngoài ra bị cáo còn tham gia ủng hộ 5.000.000đ vào quỹ UBND xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn ngày 10/11/2021 để phòng chống dịch Covid 19 và đã tự nguyện nộp lại 15.000.000 đồng tiền phạt bổ sung, 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Việt Yên; sau khi thực hiện hành vi phạm tội biết không thể trốn tránh được bị cáo đã ra đầu thú để được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
HĐXX phúc thẩm nhận thấy: Bị cáo có vai trò thứ yếu, có nhân thân tốt, tại cấp phúc thẩm bị cáo Hoàng Thị T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo: Sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo như ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã đề nghị. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình liền kề nhẹ hơn của điều luật nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự.
[5]. Đối với kháng cáo xin hưởng án treo: HĐXX thấy, hành vi của bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX đã áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình liền kề nhẹ hơn của điều luật nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự. Tuy nhiên, để đảm bảo việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay, HĐXX không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo mà áp dụng hình phạt tù có thời hạn là phù hợp với quy định của pháp luật. Cũng vì vậy, tại phần tranh luận, đối đáp và lời nói sau cùng bị cáo Hoàng Thị T tự nguyện rút nội dung kháng cáo này, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận ý kiến này của bị cáo và không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị T, sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 191; khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị T 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2022 đến ngày 19/01/2023.
- Về nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm: Bị cáo Hoàng Thị T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
- Về xử lý tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm: Xác nhận bị cáo Hoàng Thị T đã nộp 15.000.000 đồng tiền phạt bổ sung và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0001508 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện (nay là thị xã ) V, tỉnh Bắc Giang.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Nâu |
Bản án số 69/2024/HS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ hàng cấm (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 69/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị T - Tàng trữ hàng cấm
