Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/8/2024

V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thi Thị Thanh Trúc.

Bà Trần Thị Sang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Thị Phượng Liên là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường - Kiểm sát viên

Ngày 6 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 496/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Kim Thị R, sinh năm 1986 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Bị đơn: Anh Huỳnh S, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Kim Thị R có ý kiến: Vào năm 2004 chị R với anh H có quen biết nhau trước và được 02 bên gia đình đồng ý nên hai bên quyết định tiến đến hôn nhân với nhau, nhưng chưa có đi đăng ký kết hôn, đến năm 2019 thì anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Thời gian sống chung với nhau thì anh, chị sống rất hạnh phúc sinh được 02 đứa con chung tên Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 19/8/2005 và Huỳnh Thị Kim T, sinh ngày 06/9/2010. Thời gian sống chung với nhau thì vợ chồng chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do nói chuyện không hợp nhau và vợ chồng chị sống không có hạnh phúc. Nên từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hợp nhau nữa và 02 người quyết định chia tay đã 01 năm nay. Nay chị R nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được. Nếu tiếp tục sống với nhau thì cuộc sống hôn nhân cũng không hạnh phúc. Nên chị R yêu cầu Tòa án xem xét cho chị R được ly hôn với anh Huỳnh S

- Về con chung: Có 02 đứa con chung tên Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 19/8/2005 và Huỳnh Thị Kim T, sinh ngày 06/9/2010. Khi ly hôn, đối với cháu Huỳnh Minh Đ đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết, còn cháu Huỳnh Thị Kim T hiện đang sống chung với chị R, nên chị R yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh Huỳnh S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh Huỳnh S, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, giấy triệu tập nhiều lần cho anh Huỳnh S biết. Nhưng anh Huỳnh S không đến Tòa án theo thông báo của Tòa án, cố tình vắng mặt và không gửi văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Kim Thị R.

* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng:

  • Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử.
  • Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Đối với việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Kim Thị R, về con chung: Giao con chung Huỳnh Thị Kim T, sinh ngày 06/9/2010 cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng. Chị R không yêu cầu anh Huỳnh S cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét. Về Tài sản, nợ chung chị Kim Thị R khai không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Kim Thị R phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Kim Thị R khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Huỳnh S, trú tại ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, yêu cầu giải quyết về con chung, về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Kim Thị R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Huỳnh S vắng mặt không có lý do tại phiên tòa. Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được, tiến hành công khai chứng cứ vắng mặt anh Huỳnh S và xét xử vắng mặt họ theo quy định tại 207, 208, 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Kim Thị R và anh Huỳnh S sau khi được sự đồng ý của cha mẹ hai bên, anh chị đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2019, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị R cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, sống không hạnh phúc. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh vụ việc, vợ chồng chị R, anh S có mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng là sự thật và họ đã sống ly thân. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên chị R và anh S đã bỏ mặt nhau, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, trong khoảng thời gian này hai người không hề gặp nhau để thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và trong quá trình giải quyết vụ án anh Huỳnh S mặt dù biết chị Kim Thị R khởi kiện tại Tòa án yêu cầu ly hôn anh, nhưng anh không đến Tòa án, thể hiện anh Huỳnh S không quan tâm, không tha thiết hàn gắn trong cuộc hôn nhân này. Từ phân tích trên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Kim Thị R đối với anh Huỳnh S.

Về con chung: Chị Kim Thị R và anh Huỳnh S có 02 người con chung là tên Huỳnh Minh Đ, sinh ngày 19/8/2005 và Huỳnh Thị Kim T, sinh ngày 06/9/2010. Đối với cháu Huỳnh Minh Đ đã trưởng thành, riêng cháu Kim T hiện đang sống chung với chị R và có nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn được sống chung với chị R. Hiện nay cháu T do chị R đang nuôi dưỡng. Tránh làm thay đổi môi trường sống của cháu và hiện nay cháu T được chị R nuôi dưỡng vẫn phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác. Nên đồng ý giao cháu Kim T cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng.

Về tài sản, nợ chung: Chị Kim Thị R khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.

[4] Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí sơ thẩm: Chị Kim Thị R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Kim Thị R đối với anh Huỳnh S.

Về hôn nhân: Chị Kim Thị R được ly hôn anh Huỳnh S

Về con chung: Chị Kim Thị R được quyền tiếp tục nuôi con chung là Huỳnh Thị Kim T, sinh ngày 06/9/2010 (theo nguyện vọng cháu T được sống chung với chị R).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Kim Thị R không yêu cầu anh Huỳnh S cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét

Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của chung, khi cần thiết và có yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như quyết định phần cấp dưỡng nuôi con.

Về về tài sản, nợ chung: Chị Kim Thị R khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

2/ Về án phí: Chị Kim Thị R phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003499 ngày 13/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị Kim Thị R đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CCTHADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Đa Lộc;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phú Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kim Thi Rương yêu cầu ly hôn Huỳnh So
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger