|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HSPT Ngày: 05/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Sử
Ông Phạm Trung Dũng
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 189/2023/HSPT ngày 20/11/2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1992 tại Lâm Đồng; Thường trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1955) và bà Đào Thị O (sinh năm 1955); là con thứ năm trong gia đình có 06 anh chị em; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bị Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” theo Bản án số 113/2007/HSST ngày 25/5/2007. Chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2008.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
2. Nguyễn Văn D, sinh năm 1986 tại Lâm Đồng; Thường trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Thợ sơn; con ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1955) và bà Đào Thị O (sinh năm 1955); là con thứ ba trong gia đình có 06 anh chị em; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D: Luật sư Nguyễn Hữu Q – Văn phòng luật sư Hoàng Minh Bình P, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại và những người làm chứng nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn khi hát karaoke tại Quán K ở ấp L, xã P, huyện L, khoảng 16h00' ngày 26/6/2022, Nguyễn Văn S cự cãi, giằng co, đánh nhau với Nguyễn Trung H. Nguyễn Văn C1 vào can ngăn, bị S dùng tay đánh vào mặt. Nguyễn Văn D là anh ruột của Nguyễn Văn C1 thấy vậy nên nhặt đá xi măng trên vỉa hè đánh một cái trúng vào vùng đầu bên trái của S gây thương tích 1%. Khi người dân xung quanh vào can ngăn, S nói “Hôm nay tao giết mày” rồi lấy xe đi về nhà, D cũng lấy xe chở C1 về nhà.
Khoảng 16h30' cùng ngày, D điện thoại cho S đến nhà mình ở khu phố H, thị trấn L, huyện L nói chuyện và giải quyết mâu thuẫn, đồng thời điện thoại cho Nguyễn Văn H1 (là anh ruột của S) đến nhà nói chuyện. Bà Đào Thị O, mẹ ruột của D, điện thoại báo khu phố biết sự việc, nhờ báo lại Công an thị trấn L đến vì sợ S đến sẽ xảy ra đánh nhau. Lúc này, Nguyễn Văn L (là em ruột của D và là anh ruột của C1) đang ngủ trong phòng, nghe được nội dung sự việc nên lấy 01 con dao ra để sẵn. D cũng lấy 01 con dao để bên hông nhà. Ông Nguyễn Văn C (là cha của L, D, C1) biết được nên lấy con dao của L giấu đi. L ra lấy dao, không thấy nên xuống nhà bếp lấy 01 con dao Thái Lan dài 22,5cm, cán gỗ cầm trên tay. Một lúc sau, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn M (là anh ruột của Nguyễn Văn S) đến, nhưng S chưa đến, nên M nói H1 về trước, M ở lại xem sự việc thế nào.
Khoảng 17h00' cùng ngày, Nguyễn Văn S chạy xe mô tô chở Nguyễn Văn T đến nhà D, dựng xe ngoài đường đối diện cổng, đi bộ vào sân khoảng 7m, cầm theo 01 con dao tự chế bằng kim loại, thấy C1 từ nhà đi ra nên lao vào chém C1 một cái nhưng C1 né được, chỉ bị trầy xước da cổ tay phải. Thấy C1 bị chém, L cầm 01 con dao từ bên hông nhà lao vào đâm 01 cái trúng vào dưới nách trái S gây thương tích 16%. D cầm 01 con dao chém vào bắp tay phải S gây thương tích 1%. Sau đó, S được T chở đến Bệnh viện điều trị thương tích.
Tại Cơ quan điều tra, D và L đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPVPHC ngày 03/01/2023 phạt tiền Nguyễn Văn S 6.500.000 đồng về hành vi dùng dao chém Nguyễn Văn C1.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 322/TgT ngày 24/8/2022, Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Nguyễn Văn S như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - 04 sẹo nhỏ.
- - 01 sẹo lớn.
- - Đứt động mạch dưới đòn, thủng tỉnh mạch dưới đòn, đã phẩu thuật khâu nối, hiện tại hẹp nhẹ động mạch dưới đòn, không thiểu dưỡng.
2. Về vật gây thương tích và chiều hướng tác động:
- - Thương tích 1: Khả năng được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.
- - Thương tích 2: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng sắc nhọn, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên.
- - Thương tích 3: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắt, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ phải sang trái.
3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là: 18 %.
- - Thương tích 1: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
- - Thương tích 2: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%.
- - Thương tích 3: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.”
* Vật chứng của vụ án: 1 con dao, loại dao thái lan, dài 22,5cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại và 1 con dao, loại dao chặt thịt, dài khoảng 42cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại.
* Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D đã bồi thường 50.000.000 đồng chi phí điều trị thương tích cho bị hại Nguyễn Văn S. Bị hại không yêu cầu gì thêm.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 146/2023/HSST ngày 11/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định: Tuyên bố Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, Nguyễn Văn D 02 (Hai) năm tù, tính từ ngày bắt chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 24/9/2023, các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D kháng cáo xin hưởng án treo.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn D 02 (Hai) năm tù là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ hay tài liệu nào mới để xem xét cho kháng cáo của các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
6. Tranh luận và đối đáp tại phiên toà:
6.1. Luật sư Nguyễn Hữu Q bào chữa cho hai bị cáo:
- + Thống nhất tội danh, Điều khoản truy tố xét xử các bị cáo, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- + Các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, có nhân thân tốt, bị cáo L đã từng chấp hành án phạt tù nhưng đã được xoá án tích nên được coi là có nhân thân tốt theo quy định của pháp luật, có công việc ổn định. Trước đây các bị cáo đi biển, nên không chấp hành được giấy triệu tập của Toà án đến tham gia phiên toà phúc thẩm, nay đã chuyển sang làm thợ sơn nước, có hợp đồng lao động đối với công ty TNHH T1 mới.
- + Các bị cáo phạm tội trong hoàn cảnh, điều kiện tương đối bị động khi người thân ruột thịt xô xát với bị hại cũng là người quen tại quán K, đánh để can ngăn thì bị hại hăm doạ “Hôm nay tao giết mày”; vốn là những người hiền lành không muốn gây sự chỉ gọi bị hại đến nhà nói chuyện phải trái, thông báo cho chính quyền địa phương và cả anh ruột bị hại đến chứng kiến; bị hại có lỗi khi mang theo dao đến nhà các bị cáo, chủ động tấn công người nhà của bị cáo.
- + Hành vi đáp trả của hai bị cáo tương xứng với hành vi, lỗi của bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho các bị cáo hưởng án treo, vì các bị cáo không tiếp tục gây nguy hiểm cho xã hội, cho trật tự xã hội tại địa phương
6.2. Các bị cáo nhất trí với bào chữa của luật sư, không bào chữa và tranh luận bổ sung.
6.3. Đại diện Viện Kiểm sát giữ quan điểm, cho rằng luật sư không thể chắc chắn được các bị cáo không tiếp tục gây nguy hiểm cho xã hội, cho trật tự xã hội tại địa phương bởi ngay tại phiên toà các bị cáo chưa nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
7. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:
Chiều ngày 26/6/2022, do có mâu thuẫn trong việc hát Karaoke nên Nguyễn Văn D đã dùng đá gây thương tích 01% cho bị hại Nguyễn Văn S tại quán K ở ấp L, xã P, huyện L. Sau đó, D hẹn S đến nhà mình tại khu phố H, thị trấn L, huyện L để giải quyết mâu thuẫn. Khi S đến, xông vào nhà dùng dao chém C1 bị trầy xước tay phải, Nguyễn Văn L đã dùng 01 con dao Thailand dài 22,5cm cán gỗ đâm dưới nách trái của S gây thương tích 16%, D dùng 01 con dao loại chặt thịt, dài khoảng 42cm cán gỗ chém vào bắp tay phải S gây thương tích 1%; gây tổng tỷ lệ tổn thương cho Nguyễn Văn S 18%.
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại 50.000.000 đồng, bị hại có ý kiến xin rút yêu cầu khởi tố đối với L và D theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn D 02 (Hai) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo. Phiên toà phúc thẩm đã từng hoãn vì các bị cáo tại ngoại kháng cáo được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên toà. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo nộp hợp đồng lao động mới ký kết với Công ty TNHH T1 mới, nhưng thừa nhận mới ký hợp đồng, chưa đi làm thường xuyên vì công việc không ổn định. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có cơ sở nên Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về việc xin hưởng án treo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D về việc xin được hưởng án treo; giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 146/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:
Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn D phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
1.1. Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, tính từ ngày bắt chấp hành án.
1.2. Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02 (Hai) năm tù, tính từ ngày bắt chấp hành án.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 146/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn D nộp mỗi người 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (05/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 69/2024/HSPT ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 69/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L 134
