|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03/5/2024 V/v: “Ly hôn giữa anh Hùng và chị Hiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ba
- Bà Lê Thị Minh Thắm
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 658/2023/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXX - DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Phạm Tấn H, sinh năm 1981; Địa chỉ: G ấp L, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: chị Thạch Thị H1, sinh năm 1987; Địa chỉ: 723 ấp Long Hòa B, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Anh Hùng, chị H1 vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Tấn H trình bày:
- Về hôn nhân: anh và chị Thạch Thị H1 cưới nhau vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn vào năm 2007. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm thường xuyên cãi vả, không còn tiếng nói chung, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh và chị H1 đã ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Nay anh thấy vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị H1.
- Về con chung: Có hai con chung tên Phạm Quốc V, sinh ngày 26/3/2007 và Phạm Quốc C, sinh ngày 19/11/2008. Hiện hai cháu đang sống chung với anh. Khi ly hôn anh H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Thạch Thị H1 biết để tham gia phiên tòa theo quy định nhưng chị H1 vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản phản hồi về việc anh H khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: anh Phạm Tấn H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Thạch Thị H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: anh Phạm Tấn H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với chị Thạch Thị H1 nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Thạch Thị H1 có nơi cư trú tại xã Đ, thành phố M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[3] Về hôn nhân: anh H và chị H1 cưới nhau vào năm 2007, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C vào năm 2007 là phù hợp với Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn anh H khai là do bất đồng quan điểm thường xuyên cãi vả, không còn tiếng nói chung, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng/2023 đến nay.
Xét thấy chị H1 đã được Tòa án triệu tập đến để hòa giải đoàn tụ nhưng chị H1 vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy phía chị H1 không có thiện chí nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, thời gian sống ly thân giữa anh H và chị H1 đã kéo dài mà không giải quyết được mâu thuẫn. Hội đồng xét xử xét thấy đời sống hôn nhân giữa anh H và chị H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của anh H, cho anh H ly hôn với chị H1 là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Có hai con chung tên Phạm Quốc V, sinh ngày 26/3/2007 và Phạm Quốc C, sinh ngày 19/11/2008. Hiện hai cháu đang sống chung với anh. Khi ly hôn anh H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con.
Xét thấy do các cháu đang sống chung với anh H nên để tránh xáo trộn trong cuộc sống của các cháu ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt cũng như phù hợp với nguyện vọng của các cháu, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của anh H, giao cháu V và cháu C cho anh H trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H, chị H1 không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Anh H và chị H1 không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Anh H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Phạm Tấn H và chị Thạch Thị H1.
- Về nuôi con chung: giao con chung tên Phạm Quốc V, sinh ngày 26/3/2007 và Phạm Quốc C, sinh ngày 19/11/2008 cho anh Phạm Tấn H trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Thạch Thị H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Phạm Tấn H phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 24526 ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Vĩnh Lộc |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
