|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày 02/11/2023 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Ngọc Thảo
- Bà Quách Thị Bích Ngà
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn Lộc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Thanh S, sinh ngày 21/5/1991; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: 3 L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Giao hàng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Ngọc L; bị cáo có vợ tên là Phạm Thị K, có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phạm Thị K, sinh năm 1999; địa chỉ: 4 P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phạm Hồng T1, sinh năm 1977; địa chỉ: 4 P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Lưu Xuân T2, sinh năm 1985; địa chỉ: D Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 25 phút, ngày 19/5/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Q đi tuần tra đến trước nhà số I Đường C T, Phường A, Quận A phát hiện đối tượng Nguyễn Văn T3 Sang điều khiển xe mô tô hai bánh có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trong túi áo khoác phía trước bên trái của đối tượng S có một phong bì màu trắng, bên trong có một gói nylon chứa tinh thể và một gói nylon chứa bốn viên nén màu cam là ma túy nên đưa về Công an P, Quận A tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Qua lời khai của bị can S, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp tại địa chỉ nhà số D P, phường P, quận T nơi đối tượng tên T4 cất giữ số ma túy để bị can S đến lấy giao cho người mua ma túy. Qua khám xét, Công an không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị can S tại địa chỉ nhà số A liên ấp A xã V, huyện B (là nhà do bị can S thuê). Qua khám xét, Công an không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với bị can. Kết quả xét nghiệm cho thấy bị can Nguyễn Văn Thanh S âm tính với ma túy.
Tại Bản Kết luận giám định số 5436/KL-KTHS, ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H xác định:
- - Gói 1: Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký Nguyễn Văn Thanh S và dấu hình Công an P, Quận A được ký hiệu mẫu m1 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9990g, loại Ketamine (thu giữ trong người của S tại thời điểm bắt quả tang).
- - Gói 2: 04 viên nén hình tam giác màu cam trong 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký Nguyễn Văn Thanh S và dấu hình Công an P, Quận A ký hiệu mẫu m2 cần giám định, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,4175g, loại MDMA (thu giữ trong người của S tại thời điểm bắt quả tang).
Bị can Nguyễn Văn Thanh S khai nhận: Vào khoảng 11 giờ ngày 19/5/2023, bị can S nhận được điện thoại của tên T4 (gọi qua mạng zalo) nói bị can S đến chỗ ở của T4 tại địa chỉ số D P, phường P, quận T lấy 01 gói ma túy dạng Khay và 04 viên nén màu cam (là ma túy dạng thuốc lắc) do T4 để sẵn trong phòng ngủ của T4 ở trên lầu, mang đi giao cho người mua ma túy tại trước nhà số I Đường 3 Tháng 2 sau khi giao ma túy thì nhận số tiền 3.080.000 đồng (Ba triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) mang về cho T4, T4 sẽ trả cho bị can S số tiền công đi giao ma túy là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Bị can Nguyễn Văn Thanh S biết rõ mục đích bán ma túy của T4 và đồng ý đi giao ma túy cho T4 để có tiền tiêu xài. Khi đến địa điểm giao ma túy, bị can S chưa gặp được người mua ma túy thì đã bị Công an kiểm tra bắt giữ. Bị can S không biết họ tên, lai lịch cụ thể của người mua số ma túy trên của T4.
2
Bị can Nguyễn Văn Thanh S khai nhận đã đi giao ma túy cho T4 được 02 lần: Lần đầu vào trước ngày lễ 30/4/2023, bị can S không nhớ chính xác ngày và địa điểm giao ma túy, không biết lai lịch người mua ma túy, đi giao 01 gói ma túy dạng K1 do T4 nhờ giao cho người mua ma túy của T4, gói ma túy này trị giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), người mua ma túy đã thanh toán trực tiếp cho T4, sau khi đi giao ma túy xong quay về thì T4 trả cho S số tiền công là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Lần thứ hai là vào ngày 19/5/2023, như đã nêu trên.
Bà Phạm Hồng T1 (là mẹ vợ của bị can S đồng thời là mẹ ruột của đối tượng T4) và bà Phạm Thị K (là vợ của bị can S và là chị ruột của đối tượng T4) xác nhận: Vào ngày 19/5/2023 bà K được bị can S chở đến nhà mẹ ruột của bà K tại địa chỉ số D P, phường P, quận T để phụ gia đình buôn bán. Sau khi đến thì bà K phụ buôn bán và trông các con, không để ý nên không biết việc bị can S và đối tượng T4 liên lạc với nhau và không biết bị can S đi giao ma túy cho đối tượng T4. Bà T1 và bà K cho biết đối tượng T4 có họ tên đầy đủ là Phạm Văn T5, sinh năm 2003. Từ nhỏ đến lớn đối tượng T5 không có giấy khai sinh, không có giấy tờ tùy thân, trước đây đối tượng T5 sinh sống cùng gia đình tại địa chỉ số D P, phường P, quận T. Hiện nay đối tượng T5 bỏ nhà đi đâu không rõ.
Xác minh tại Công an phường P, quận T được biết công dân Phạm Văn T5, sinh năm 2003, trước đây cư trú tại địa chỉ số D P, phường P, quận T, thuộc trường hợp nhân khẩu đặc biệt, từ nhỏ đến lớn không có giấy khai sinh, không có giấy tờ tùy thân, không đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Hiện nay đối tượng Phạm Văn T5 đã bỏ đi khỏi địa phương, hiện nay không rõ nơi cư trú.
Xác định tên Phạm Văn T5 đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với đối tượng Phạm Văn T5 nhưng đến nay vẫn chưa tìm được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có công văn gửi Công ty cổ phần VNG - Thành phố H để xác minh thông tin chủ tài khoản Zalo tên là “Ku Nhóc” và công văn gửi Công ty T7 để xác minh thông tin chủ các số thuê bao có liên quan đến vụ án nhưng đến nay chưa nhận được kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào truy tìm được đối tượng Phạm Văn T5 sẽ xử lý sau.
Bị can Nguyễn Văn Thanh S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can Nguyễn Văn Thanh S thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ được áp dụng đối với bị can.
Vật chứng của vụ án:
- - Hai gói niêm phong có ghi vụ số 1158 (5436), có chữ kí giám định viên sau giám định chứa số ma túy còn lại sau giám định.
- - Một điện thoại di động hiệu S1, màu xanh đen. Điện thoại này bị can S dùng để liên lạc khi bán ma túy.
- - Một xe mô tô 02 bánh hiệu Vision, màu đỏ, biển số: 59Y1-776.98 là phương tiện bị can S dùng để đi giao ma túy. Qua xác minh thông tin, chủ sở hữu chiếc xe Vision, màu đỏ, biển số: 59Y1-776.98 là ông Trần Bá V (sinh năm: 1976, hộ khẩu thường trú: số B ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh). Đến khoảng đầu năm 2022, ông V đã bán chiếc xe cho ông Nguyễn Văn T6 (đại diện cửa hàng X, địa chỉ số
3
F P, Phường A, quận T). Ông Nguyễn Văn T6 (sinh năm: 1987, hộ khẩu thường trú: số F P, Phường A, quận T) xác nhận ngày 31/01/2023 đã bán lại xe cho bị can Nguyễn Văn Thanh S, hiện ông T6 không còn lưu giữ các giấy tờ liên quan đến việc mua bán xe.
Tại Bản cáo trạng số 67/CT-VKSQ11 ngày 03/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Nguyễn Văn Thanh S tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Thanh S có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Phạm Thị K và bà Phạm Hồng T1 có lời khai phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Người làm chứng là ông Lưu Xuân T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 Sang từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- - Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là hai gói niêm phong có chứa số ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng là một điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng là một xe mô tô 02 bánh hiệu Vision, màu đỏ, biển số: 59Y1-776.98.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào lúc 12 giờ 25 phút ngày 19/5/2023, tại trước nhà số I đường C T, Phường A, Quận A, bị cáo Nguyễn Văn Thanh S đã có hành vi giúp đối tượng Phạm Văn T5 bán 1,9990g ma túy, loại Ketamine và 1,4175g ma túy, loại MDMA.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Thanh S đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
4
Bị cáo Nguyễn Văn Thanh S thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích giúp sức cho đối tượng Phạm Văn T5.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Thanh S đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự xã hội. Bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
[2] Về tình tiết định khung hình phạt:
Căn cứ khoản 2, Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của một trong các Điều 248, 249, 251, 252 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của các chất ma túy trong vụ án này là 38,345% thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy, ngoài lời khai của bị cáo S thừa nhận việc bán ma túy giúp cho đối tượng T5 hai lần thì Cơ quan điều tra chưa thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ 02 lần trở lên của bị cáo S nên chưa đủ căn cứ áp dụng tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên đối với bị cáo S.
Từ những lý do trên, Hội đồng xét xử xác định hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Thanh S thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với vật chứng là hai gói niêm phong có ghi vụ số 1158 (5436), có chứa số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen do bị cáo S dùng để liên lạc khi bán ma túy là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với vật chứng là một xe mô tô 02 bánh hiệu Vision, màu đỏ, biển số: 59Y1-776.98 là phương tiện bị cáo S dùng để đi bán ma túy, là phương tiện dùng vào
5
việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về xem xét đối với khoản thu lợi bất chính và việc phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xác định số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy giúp cho đối tượng T5 là 200.000 đồng, đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.
Do bị cáo không có việc làm có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành khoản nộp phạt nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xem xét vai trò, trách nhiệm của các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Đối với đối tượng tên Phạm Văn T5 người đã đưa số ma túy cho bị cáo S đem đi bán, hiện nay đã đi khỏi địa phương, không rõ nơi cư trú, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy tìm nhưng đến nay vẫn chưa tìm được khi nào truy tìm được sẽ tiến hành xử lý sau.
[7] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn Thanh S, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn Thanh S;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Thanh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Thanh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2023.
6
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- - Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là hai gói niêm phong có ghi vụ số 1158 (5436), có chứa số ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 71/LNK-ĐCSMT ngày 24/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 54/LNK-ĐCSMT ngày 24/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một xe mô tô 02 bánh hiệu Vision, màu đỏ, biển số: 59Y1-776.98 (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 54/LNK-ĐCSMT ngày 24/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn Thanh S phải nộp lại số tiền 200.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |
7
8
Bản án số 69/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
