|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày 02-08-2024 V/v ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ca Kiều Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 320/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1968
Địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1966
Địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Ông Q và bà C có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Văn Q trình bày: Năm 1999, ông Phạm Văn Q và bà Lê Thị C tự nguyện chung sống vợ chồng, nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống làm đời sống vợ chồng không hạnh phúc và hiện nay đã không còn chung sống. Xét thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên ông Q xin ly hôn bà C.
Ông Q và bà C chung sống có 01 con chung tên Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 17/9/2000 đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung ông Q không yêu cầu giải quyết, về nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị C trình bày: Bà C thống nhất với yêu cầu khởi kiện cũng như lời trình bày của Ông Q về quá trình chung sống, con chung, tài sản chung và nợ chung. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn tiếp tục chung sống nên bà C đồng ý ly hôn với ông Q. Bà C và ông Q chung sống có 01 con chung tên Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 17/9/2000 đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Bà C không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 14, Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 320 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Không công nhận ông Phạm Văn Q và bà Lê Thị C là vợ chồng. Về con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra giải quyết; về tài sản chung không yêu cầu giải quyết và nợ chung không có, nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc tranh chấp “Ly hôn” giữa nguyên đơn ông Phạm Văn Q và bị đơn bà Lê Thị C, bị đơn bà C đang cư trú tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án đơn giản, được giải quyết theo thủ tục rút gọn, nguyên đơn ông Phạm Văn Q và bị đơn bà Lê Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục rút gọn và xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 320 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Năm 1999, ông Phạm Văn Q và bà Lê Thị C tự nguyện chung sống vợ chồng, tại thời điểm chung sống với nhau cho đến nay thì
ông Q và bà C có điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Nay ông Q xin ly hôn thì bà C cũng đồng ý ly hôn với ông Q. Do bà ông Q và bà C chung sống mà không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận ông Q và bà C là vợ chồng.
[3.2] Về con chung: Ông Q và bà C chung sống có 01 con chung tên Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 17/9/2000, ông Q có cung cấp giấy khai sinh của con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung của ông Q và bà C đã đủ tuổi trưởng thành, ông bà không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q và bà C thống nhất xác định không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Ông Phạm Văn Q là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp nên được Hội đồng xét xử được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 320 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không công nhận ông Phạm Văn Q và Bà Lê Thị C là vợ chồng.
- Về con chung: Ông Phạm Văn Q và bà Lê Thị C có 01 con chung tên Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 17/9/2000 đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phạm Văn Q và Bà Lê Thị C không yêu cầu giải quyết tài sản chung, không có nợ chung, nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Văn Q phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng, ông Q đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0002937 ngày 18/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, nay được đối trừ, ông Q được nhận lại số tiền 150.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, ông Q và bà C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ca Kiều Nguyệt |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận vợ chồng
