|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUÂN Bản án số: 69/2025/HS-ST Ngày: 24 - 02 - 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà.
Các hội thẩm nhân dân: Bà: Ngô Thị Tuyết.
Ông: Nguyễn Trung Lưu.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 318/2024/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa ra xét xử sơ thẩm số 36/2025/QĐXXST HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Thanh N, tên gọi khác: Út M, Sinh năm: 1996 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: không; Con ông: Lê Thanh S (đã chết); Con bà: Trần Thị Q, sinh năm 1966, nghề nghiệp: buôn bán; Tiền án: Ngày 27/6/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có” tại bản án số 66/2018/HSST. Ngày 05/6/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 47/2020/HSST với tình tiết “Tái phạm”, tổng hợp hình phạt của bản án số 66/2018/HSST ngày 27/6/2018 buộc N phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 21 tháng tù. Ngày 25/10/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm tài sản” tại bản án số 148/2021/HSST với tình tiết “Tái phạm”, tổng hợp hình phạt của bản án số 47/2020/HSST ngày 05/6/2020 buộc N phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 45 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 01/9/2023, chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/6/2024, chuyển tạm giam ngày 15/6/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P “có mặt”.
*/Người làm chứng:
Võ Thị Đ, sinh năm: 1993 “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 05/6/2024, Lê Thanh N đi đến một con hẻm nhỏ, thuộc phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận gặp 01 người phụ nữ (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 500.000 đồng ma túy loại Heroine thì người phụ nữ đồng ý. N đưa cho người phụ nữ 500.000 đồng, người phụ nữ nhận tiền rồi đưa lại cho N 01 gói nylon bên trong có chứa ma túy loại Heroine. Mua được ma túy, N mang về nhà tại khu phố A, phường P, thành phố P cất giấu mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Về đến nhà, N đổ số ma túy vừa mua được lên 01 chiếc dĩa sứ màu trắng rồi dùng những đoạn ống nhựa, màu đen phân lẻ số ma túy trên thành 05 tép nhỏ, hàn kín hai đầu rồi cất giấu trong người, số ma túy trên dĩa còn sót lại một ít N để lại nhằm mục đích cùng Võ Thị Đ (sinh năm 1993, trú tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, là bạn gái sống chung với N) cùng sử dụng. Đến 23 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên N dùng điện thoại có sim số 0585.789.xxx gọi cho một người tên M1 (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì M1 đồng ý và hẹn mang ma túy đến nhà bán cho N (gọi cho M1 xong, N đã xóa số điện thoại của M1). Mua được ma túy, N lấy ra 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đổ ma túy đá vừa mua được vào nỏ thủy tinh rồi rủ Đ sử dụng, nhưng Đ mệt không dùng nên cả đi ngủ.
Đến 08 giờ ngày 06/6/2024, Đ ngủ dậy đi ra phong khách thì thấy ma túy loại Heroine của N để trên dĩa, Đ lấy châm lửa sử dụng. Lúc này, N đi ra lấy 01 bộ dụng cụ bên trong nỏ có sẵn ma túy đá chuẩn bị từ trước, N châm lửa cùng Đ sử dụng. Sử dụng ma túy xong, N bỏ lại bộ công cụ bên trong còn lại một ít ma túy xuống nền xi măng trong phòng khách. Đến 10 giờ 00 phút cùng ngày, N nhận được điện thoại từ số thuê bao 0567905442 của người đàn ông (chưa rõ nhân thân) gọi vào số điện thoại 0585.789.xxx gặp N và nói: “Em là em của Bé S1, ở P nè, anh làm cho em 05 con” (tức là 05 tép heroine, với giá 500.000 đồng) và hẹn N đến sau khu vực nhà thờ P, thành phố P để thực hiện giao dịch mua bán thì N đồng ý. Nghe điện thoại xong, N lấy 05 tép ma túy Heroine chứa trong 01 gói nylon bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá hiệu Cotab để đi bán cho khách. Khi nghĩa đi đến khu vực trước số nhà E, đường P, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thì bị lực lượng Tổ tuần tra thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường P, thành phố P kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ tang vật đưa N về trụ sở Công an phường P để làm việc.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ trong lòng bàn tay phải của N: 01 gói nylon không màu, hở một đầu, kích thước khoảng (03x03)cm, bên trong có 05 đoạn ống hút bằng nhựa màu đen, đều được hàn kín, mỗi đoạn ống hút có kích thước như nhau khoảng (01x02)cm, bên trong đều có chứa chất dạng rắn, bỏ trong 01 vỏ gói thuốc lá, hiệu COTAB (được ký hiệu là M1 khi giám định);
- Thu giữ trong lòng bàn tay trái của N: 01 chiếc điện thoai di động màu đen, loại bàn phím, màn hình điện thoại đã bị vỡ, mặt trước và mặt sau điện thoại có chữ Nokia, có số seri 1: 359016090469944 và số seri 2: 359016090969943; bên trong điện thoại có chứa sim số 0585789792 và sim số 0899706020, điện thoại đã qua sử dụng.
Sau khi bắt quả tang Lê Thanh N khai nhận còn cất giấu ma túy tại nhà thuộc khu phố A, phường P, thành phố P tỉnh Bình Thuận. Cùng ngày 06/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B khám xét chỗ ở của N. Qua kiểm tra lực lượng Công an phát hiện, thu giữ trên nền gạch trong phòng khách nhà của Lê Thanh N gồm các tang vật sau:
- 01 đĩa sứ màu trắng kích thước khoảng 18cm, trên dĩa có chứa chất rắn màu trắng (chất màu trắng trên được thu giữ vào trong 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (05 x 8,5)cm), được ký hiệu là M2 khi giám định);
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 vỏ chai bằng nhựa, trên nắp vỏ chai có gắn ống hút nước giải khát, màu trắng hồng, 01 ống thủy tinh, kích thước khoảng (13cm) được uốn cong một đầu, đầu uốn cong có dạng hình phễu, bên trong có chứa chất rắn màu vàng nhạt (được ký hiệu là M3 khi giám định);
- 01 cân tiểu ly, màu đen, kích thước khoảng (7,5 x 12,5)cm.
Quá trình điều tra, Lê Thanh N khai nhận: đối với 05 tép ma túy loại H bị thu giữ khi bắt quả tang là của N tàng trữ nhằm mục đích bán cho các con nghiện để kiếm lời; số Heroin thu giữ trên đĩa và số ma túy đá còn lại trong nỏ là của N mua về nhằm mục đích tàng trữ sử dụng và cung cấp cho Võ Thị Đ sử dụng chung. Việc N tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy thì Đ không góp tiền hay thống nhất ý chí cùng N (bút lục: 65-85 và 106-113).
Tại Bản kết luận giám định số 635/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,1088 gam là Heroine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0171 gam là Heroine.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,1454 gam là Methamphetamine.
Như vậy, số ma túy N tàng trữ nhằm mục đích bán lại là 0,1088 gam là Heroine, số ma túy N tàng trữ nhằm mục đích sử dụng là 0,0171 gam là H1 và 0,14454 gam là Methamphetamine
Hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định gồm: 01 gói nylon không màu, 05 đoạn ống nhựa màu đen đã cắt lấy mẫu và 0,0835 gam mẫu vật M1 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 635/1; 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ và 0,0038 gam mẫu vật M2 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 635/2; 01 ống thủy tinh được uống cong và thổi phồng một đầu và 0,0377 gam mẫu vật M3 còn lại sạu giám định, được niêm phong trong phong bì số 635/3, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Bút lục số: 56).
Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 635/1, 635/2, 635/3 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 vỏ chai bằng nhựa; 01 ống hút nước bằng nhựa trắng hồng, 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu; 01 chiếc cân tiểu ly, 01 đĩa sứ màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động hiệu N2 (thu giữ của Lê Thanh N), Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý
Tại bản cáo trạng số 356/CT-VKSPT-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Lê Thanh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm q khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo N mức án từ 7 đến 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 7 đến 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; 5 đến 6 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung cho 3 tội buộc bị cáo phải chấp. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng thu giữ từ bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên về hành vi phạm tội của mình cũng như lời kết tội của Kiểm sát viên.
Về lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người làm chứng, kết quả giám định kỹ thuật Hình sự của Công an tỉnh B về vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:
Vào lúc 10 giờ ngày 06/6/2024, tại khu vực trước số nhà E, đường P, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, bị cáo Lê Thanh N đang có hành vi tàng trữ 0,1088 gam là ma túy Heroine mang đi bán cho khách với giá 500.000 đồng để thu lợi bất chính, thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Quá trình khám xét chỗ ở của N tại khu phố A, phường P, thành phố P, thì phát hiện N đã có hành vi tàng trữ 0,0171 gam là ma túy Heroine và 0,1454 gam là ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an thu giữ.
Qúa trình điều tra, xác định: vào lúc 08 giờ ngày 06/6/2024, N đã có hành vi cung cấp ma túy, cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy và cung cấp địa điểm để tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của N và Võ Thị Đ.
Xét thấy, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Lê Thanh N bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 148/2021/HSST ngày25/10/2021. Tại bản án số 148/2021/HSST đã áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249, điểm p khoản 2 Điều 251 và điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho thấy: bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi như mua bán, vận chuyển, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội thế nhưng bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả đã thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cao cho xã hội nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nhân thân bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.
- Về xử lý vật chứng: 03 (ba) phong bì niêm phong số 635/1, 635/2, 635/3 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) cân tiểu ly, 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 vỏ chai nhựa; 01 ống hút nước bằng nhựa màu trắng hồng; 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu là vật chứng cấm lưu hành và vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ. 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 là phương tiện phạm tội tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với Võ Thị Đ không biết việc N thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Ma túy mà Đ sử dụng là N tự nguyện cho Đ sử dụng, Đ không góp tiền, không giúp sức hay thống nhất với N trong việc mua ma túy về tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối với người phụ nữ ở thị xã L và người tên M1 (là những người bán ma túy cho N) do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý. Cơ CSĐT Công an thành phố P đã tra cứu thông tin chủ sở hữu số thuê bao 0567905442 mà đối tượng dùng để liện lạc với N để mua ma túy nhưng hiện chưa có kết quả, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
- Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: điểm o khoản 02 Điều 249; điểm q khoản 02 Điều 251; điểm h khoản 02 Điều 255; điểm s khoản 01 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; “Mua bán trái phép chất ma tuý”; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của ba tội là 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
- Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, c khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên:
Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định là 03 (ba) phong bì niêm phong số 635/1, 635/2, 635/3 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B và 01 (một) cân tiểu ly, 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 vỏ chai nhựa; 01 ống hút nước bằng nhựa màu trắng hồng; 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu vật chứng cấm lưu hành và vật chứng không có giá trị sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 là phương tiện phạm tội tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 119 ngày 21/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.)
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q1 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Thanh N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (24/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |
Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về hình sự: tàng trữ, mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ, Mua bán và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh N - Tàng trữ trải phép chắt ma tuỷ”; “Mua bán trải phép chắt ma tuỷ”; “Tô chức sử dụng trái phép chắt ma túy
