|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/LĐ-ST
Ngày: 27/3/2025
V/v tranh chấp về bảo hiểm xã hội.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 281/2024/TLST-LĐ ngày 23/10/2024 tranh chấp về bảo hiểm xã hội, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1057/2025/QĐXXST-LĐ ngày 18/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1863/2025/QĐST-LĐ ngày 11/3/2025.
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số B, Tổ A, Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
Địa chỉ: Số H Đường số C, Khu phố H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thu H và ông Cao Đức T (Giấy uỷ quyền ngày 14/3/2025).
Tại phiên toà: Nguyên đơn – ông Nguyễn Quang C, có mặt; Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lê Thị Thu H và ông Cao Đức T cùng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 30/9/2024, các bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn – ông Nguyễn Quang C trình bày:
Ngày 01/11/2021, ông Nguyễn Quang C và Công ty TNHH S (sau đây gọi tắt là “Công ty S") có ký kết Hợp đồng lao động số IPC314/2021/ IPC. Theo đó, loại hợp đồng được ký kết là hợp đồng xác định thời hạn từ ngày 01/11/2021 đến ngày 31/12/2022 với công việc là thợ mài. Mức lương làm căn cứ trích nộp BHXH, BHYT, BHTN: 4.966.000 đồng (Bốn triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Quá trình làm việc từ tháng 11/2021 đến khi nghỉ việc, ông C luôn hoàn thành tốt công việc chưa từng bị kiểm điểm hay khiển trách. Ngày 15/8/2022, vì lý do cá nhân nên ông C nộp đơn xin nghỉ việc. Ngày 30/08/2022, ông C chính thức nghỉ việc tại công ty theo đúng quy định. Tuy nhiên, từ sau khi nghỉ việc đến nay, ông mới biết Công ty S không đóng BHXH cho ông trong suốt thời gian dài, cụ thể là từ ngày 01/11/2021 đến ngày 30/08/2022. Trong khoản thời gian làm việc tại Công ty S, Công ty S chưa hề đóng BHXH cho ông tháng nào. Tuy nhiên, Công ty S luôn bắt ông tham gia đóng BHXH theo từng tháng và trực tiếp khấu trừ vào bảng lương từ ngày 01/11/2021 đến ngày 30/08/2022. Đến nay, Công ty S vẫn chưa thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho ông để làm thủ tục hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật. Thông tin số bảo hiểm xã hội số: 7413057467. Ngày 27/9/2024, ông C được Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T trả lời đã quá thời hiệu đề nghị hòa giải tranh chấp lao động nên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố T không thể giải quyết cho ông. Vì vậy, ông C yêu cầu Toà án xem xét và giải quyết: Buộc Công ty S thực hiện việc đóng BHXH cho ông Nguyễn Quang C từ ngày 01/11/2021 đến ngày 30/08/2022 và thực hiện việc chốt số bảo hiểm xã hội số: 7413057467.
Bị đơn – Công ty Trách nhiệm hữu hạn S có bà Lê Thị Thu H và ông Cao Đức T là người đại diện theo ủy quyền vắng mặt tại phiên tòa nhưng ngày 20/3/2025 có lời trình bày:
Phía Công ty Trách nhiệm hữu hạn S có nhận được giấy triệu tập của vụ án. Công ty có tham gia BHXH đầy đủ cho ông Nguyễn Quang C, tuy nhiên Công ty Trách nhiệm hữu hạn S chưa xử lý chốt tờ rời đầy đủ kịp thời cho ông Nguyễn Quang C. Sau khi nhận được triệu tập, phía Công ty đang làm việc với cơ quan BHXH thành phố Thủ Đức để chốt sổ cho ông Nguyễn Quang C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Các trình tự, thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật, nhưng cần rút kinh nghiệm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn – ông Nguyễn Quang C khởi kiện bị đơn – Công ty Trách nhiệm hữu hạn S tranh chấp về bảo hiểm xã hội. Bị đơn có trụ sở tại thành phố T. Căn cứ Điểm d Khoản 1 Điều 32; Điểm c Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn – ông Nguyễn Quang C có mặt. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn gồm: Bà Lê Thị Thu H và ông Cao Đức T cùng vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Hội đồng xét xử nhận định, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có cơ sở xác định: Ngày 01/11/2021, ông Nguyễn Quang C và Công ty S có ký kết Hợp đồng lao động số IPC314/2021/ IPC. Theo đó, loại hợp đồng được ký kết là hợp đồng xác định thời hạn từ ngày 01/11/2021 đến ngày 31/12/2022 với công việc là thợ mài. Mức lương chính trích nộp BHXH, BHYT, BHTN: 4.966.000 đồng. Ngày 15/8/2022, vì lý do cá nhân ông C nộp đơn xin nghỉ việc đến ngày 30/08/2022 ông C nghỉ việc tại công ty. Tuy nhiên, Công ty S không đóng BHXH cho ông C từ ngày 01/11/2021 đến ngày ông C nghỉ việc 30/08/2022.
Tại Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội: “Trách nhiệm của người sử dụng lao động: “1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội. 2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội ...”.
Ngày 14/3/2025, Bảo hiểm xã hội thành phố T có Công văn số 951/BHXH-TST thông tin về thời gian đóng bảo hiểm của ông C đã chốt lần gần nhất là từ tháng 11/2018 đến tháng 04/2019 tại Công ty Cổ phần D. Công ty S đăng ký tham gia BHXH cho ông Nguyễn Quang C từ tháng 11/2021 đến tháng 01/2023, công việc thợ mài, căn cứ đóng 4.966.000 đồng. Vào ngày 20/3/2025, người đại diện theo uỷ quyền của Công ty S đến Toà và có lời khai thừa nhận chưa xử lý để chốt tờ rời cho ông C, Công ty đang làm việc với cơ quan BHXH thành phố Thủ Đức để chốt sổ cho ông C. Hiện đến thời điểm giải quyết vụ án Công ty S vẫn chưa chốt sổ đóng bảo hiểm xã hội cho ông C như đã trình bày và người đại diện vắng mặt tại phiên toà. Do đó, có cơ sở xác định Công ty S chưa thực hiện chốt sổ và đóng bảo hiểm xã hội cho ông C từ ngày 01/11/2021 đến ngày 30/08/2022 (ngày ông C nghỉ việc).
Từ những phân tích và nhận định trên, đối chiếu với quy định pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quang C.
[4] Về án phí: Nguyên đơn – ông Nguyễn Quang C khởi kiện thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Bị đơn - Công ty S phải chịu án phí 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm d Khoản 1 Điều 32; Điểm c Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Bộ luật lao động năm 2019;
- Điều 21, Điều 85, Điều 86 và Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014;
- Luật phí và lệ phí năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Luật thi hành án dân sự.
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Nguyễn Quang C:
Buộc bị đơn - Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải thực hiện ngay việc đóng tiền bảo hiểm xã hội và chốt sổ cho người lao động ông Nguyễn Quang C, mã số BHXH 7413057467, thời gian từ ngày 01/11/2021 đến ngày 30/8/2022, ghi nhận tiền lương đóng bảo hiểm là 4.966.000 đồng/tháng nên cơ quan bảo hiểm tính mức đóng phù hợp theo quy định của pháp luật.
-
Về án phí: Ông Nguyễn Quang C khởi kiện thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Quốc Thịnh |
Bản án số 69/2025/LĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Số bản án: 69/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Cảnh, Công ty TNHH sản xuất IPC - Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
