Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HSST

Ngày: 03 -11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Thanh

Bà Trương Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với:

* Bị cáo: Võ Gia K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không có; Sinh ngày 28 tháng 5 năm 2004 tại Quảng Ngãi; Nơi đăng ký HKTT: thôn N, xã V, tỉnh Quảng Ngãi; Địa chỉ cư trú: số A đường T, phường H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Thẻ CCCD: [...]; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không có; con ông Võ Đại H và bà Đinh Thị T; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Đức Thanh T1 - Sinh năm 2006 - Địa chỉ: tổ H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
  2. Ông Nguyễn Viết D - Sinh năm 2004 - Địa chỉ: K N, phường L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Đăng Q - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: số I T, phường T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
  2. Bà Trần Thị L - Sinh năm 1983 - Địa chỉ: số B đường Â, phường L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
  3. Ông Võ Văn K1 - Sinh năm 1999 - Địa chỉ: số A đường T, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Võ Gia K đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 26/3/2025, K đi đá bóng tại khu vực Trung tâm văn hóa thể thao quận L (cũ), nay thuộc phường H, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, K ra về thì thấy 01 chiếc áo khoác để tại khu vực gần khung thành của sân bóng, bên trong túi áo có 01 điện thoại di động hiệu Samsung A35 của anh Nguyễn Đức Thanh T1. Lợi dụng lúc anh T1 và những người khác đang đá bóng không ai để ý, K đã lấy điện thoại này và mang về phòng trọ cất giấu. K tự lên mạng internet xem hướng dẫn cài đặt lại máy và đã cài đặt được lại máy điện thoại. Đến trưa ngày 02/4/2025, K đem điện thoại trên đến tiệm mua bán điện thoại tại số B đường Â, phường L, thành phố Đà Nẵng do bà Nguyễn Thị L1 làm chủ tiệm để bán với giá 2.500.000đồng, sau đó bà L1 đã bán lại điện thoại cho khách hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) được 2.900.000đồng. Quá trình điều tra, không thu hồi được điện thoại này.

Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 15/5/2025, Võ Gia K đến khu vực giao nhau giữa đường N và Hồ T, phường H, thành phố Đà Nẵng để tắm biển. Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, K đi về thì thấy có 02 thanh niên đỗ xe môtô hiệu Honda PCX tại khu vực ven biển đường N nên K nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đợi lúc 02 người thanh niên đi xuống tắm biển, K dùng tay mở cốp xe và lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 của anh Nguyễn Viết D. Trong cốp xe có 01 thẻ căn cước công dân nên K nhập thử mật khẩu điện thoại bằng số ngày tháng và 02 số cuối năm sinh ghi trong thẻ căn cước thì mở được khóa điện thoại. Sau đó, K mang điện thoại này đến tiệm sửa chữa điện thoại "Đăng Quang" tại địa chỉ I T, phường T, thành phố Đà Nẵng do anh Trần Đăng Q làm chủ tiệm để nhờ thoát icloud và cài lại chương trình trên điện thoại, K để điện thoại lại và đi về. Sau khi bị mất điện thoại, anh Nguyễn Viết D đến Công an trình báo vụ việc. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi K quay lại cửa hàng "Đăng Quang" lấy điện thoại thì bị lực lượng Công an mời về trụ sở để làm việc và K đã khai nhận toàn bộ hành vi.

Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận L xác định giá trị của điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 là 9.300.000đồng; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung-A35 là 4.083.000đồng. Tổng giá trị tài sản mà Võ Gia K trộm cắp được xác định là 13.383.000đồng.

Bị hại Nguyễn Viết D đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Bị hại Nguyễn Đức Thanh T1 đã nhận bồi thường 4.083.000đồng, không có yêu cầu gì và có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

* Cáo trạng số: 32/CT-VKSKV4 ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt Võ Gia K từ 09 tháng đến 12 tháng tù; về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Võ Văn K1 xe mô tô hiệu Vespa BKS 82 V1-2359, trả cho ông Nguyễn Viết D điện thoại di động hiệu Iphone 14 là phù hợp nên không có ý kiến; đề nghị tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án đối với 01 (một) DVD chứa dữ liệu camera ghi hình ảnh việc mua bán chiếc điện thoại Samsung A35 VA 01 DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai của Võ Gia K; về dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.

* Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến đối với nội dung luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Võ Gia K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai khác và chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trung tâm văn hóa thể thao phường H, thành phố Đà Nẵng, Võ Gia K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Đức Thanh T1 điện thoại di động hiệu Samsung A35 trị giá 4.083.000đồng.

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại khu vực bãi để xe tại gần nơi giao nhau giữa đường N và Hồ T, phường H, thành phố Đà Nẵng, Võ Gia K tiếp tục lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Viết D điện thoại di động hiệu Iphone 14 trị giá 9.300.000đồng.

Hành vi trên đây của Võ Gia K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:

Võ Gia K là người trưởng thành, có sức khỏe nhưng chỉ vì muốn hưởng thụ mà không phải bỏ sức lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương nên nhất thiết phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích và phòng ngừa chung.

Bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin bãi nại là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét khi lượng hình.

[4] Về tang vật thu giữ của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, nhận thấy: Đối với xe mô tô hiệu Vespa, BKS 82 V1-2359, điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu xanh, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp; đối với 01 DVD chứa dữ liệu camera ghi hình ảnh việc mua bán chiếc điện thoại Samsung A35 và 01 DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai của Võ Gia K là tài liệu liên quan đến vụ án nên cần tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Viết D đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Bị hại Nguyễn Đức Thanh T1 đã nhận bồi thường số tiền 4.083.000đồng, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xét nội dung đề nghị tại phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng về tội danh, điều khoản luật áp dụng và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt là có cơ sở cần được chấp nhận.

[7] Đối với ông Trần Đăng Q và bà Nguyễn Thị L1 đã có hành vi nhận sửa chữa, mua điện thoại của Võ Gia K nhưng ông Q, bà L1 đều không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có; đối với ông Võ Văn K1 đã cho Võ Gia K mượn xe máy nhưng không biết K sử dụng đi trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không xử lý đối với những người này là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo Võ Gia K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:

    Xử phạt Võ Gia K: 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án đối với một DVD chứa dữ liệu camera ghi hình ảnh việc mua bán chiếc điện thoại Samsung A35 và một DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai của Võ Gia Kiệt.
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

    Buộc bị cáo Võ Gia K phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc từ ngày bản án được niêm yết

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan
  • - VKSND Khu vực 4;
  • - VKSND Đà Nẵng;
  • - THADS thành phố Đà Nẵng;
  • - Cơ quan điều tra CA TP Đà Nẵng;
  • - Cơ quan THAHS CA TP Đà Nẵng;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

DƯƠNG THỊ THÁI

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HSST ngày 03/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 69/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Gia K phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger