|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/HS-ST
Ngày 27-11-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khánh Vân
Thẩm phán: Ông Đặng Phi Long
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Bình, ông Nguyễn Ngọc Thanh, bà Vũ Hồng Lĩnh
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 27/11/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 01/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 13/11/2025 đối với:
- Bị cáo:
Nguyễn Đức L
(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 23 tháng 10 năm 1992 tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng). Căn cước số: [...] do Bộ C2 cấp ngày 14/01/2025.
Nơi ĐKHKTT: Khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng); Nơi ở: Khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Lệ . Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 03 (ba) năm tù về tội "Cướp giật tài sản" tại bản án hình sự sơ thẩm số 151/2014/HSST ngày 05/8/2014 (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/6/2025. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh L. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức L: Ông Trần Hòa B, Luật sư Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh L. (Có mặt).
- Bị hại: Anh Lý Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ dân phố số B, thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã M, tỉnh Lào Cai). (Có mặt).
- Người làm chứng:
- + Anh Bàn Tòn S, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Đặng Thị S1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lào Cai
- + Anh Triệu Tòn P, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Triệu Mùi D, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Bàn Tòn N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lào Cai
- + Chị Triệu Thị D1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lào Cai
- + Chị Triệu Tòn B1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lào Cai
- + Chị Bàn Thị D2, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Bàn Tòn N, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn K, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Triệu Thị C, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn K, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Triệu Tòn K, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn K, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Triệu Thị L1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn K, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Triệu Tòn P1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn K, xã C, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Lương Minh C1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Đỗ Ngọc S2, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ G D, phường L, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Lê Văn Đ1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Lò Thị Đ2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai
- + Anh Lò Thành Đ3, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn K, xã D, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Đặng Tòn N1, sinh năm1996. Địa chỉ: Thôn K, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Hoàng Văn L2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Hà Văn Đ4, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn K, xã D, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Hoàng Ngọc H, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn L, xã D, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Nguyễn Thị Mỹ D3, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp H, xã N, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang).
- + Chị Bùi Thị Y, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Hoàng Văn Đ5, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Chị Triệu Thị M, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn K, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Lò Quang T2, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn K, xã P, tỉnh Lào Cai.
- + Anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khu B, phường B, thành phố H (nay là phường T, thành phố Hải Phòng).
(Tất cả những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối năm 2023, để có tiền tiêu sài cá nhân, Nguyễn Đức L, sinh năm 1992, trú tại: khu phố H, phường P, tỉnh Lâm Đồng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. L sử dụng mạng xã hội Facebook với tài khoản “Luân N2” đăng bài viết trên trang cá nhân với nội dung: Cần tuyển người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc theo diện nợ phí (khi nào đi sang Hàn Quốc thì mới phải trả hết phí, hoặc có thể trả dần) với công việc “đóng bao bì Hồng S3”. Sau khi đăng bài viết thì Lý Văn T, sinh năm: 1982, trú tại: tổ dân phố số B, thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là thôn G, xã M, tỉnh Lào Cai) sử dụng tài khoản Facebook với tên hiển thị “Tình Ninh” nhắn tin hỏi về thủ tục, kinh phí để được sang Hàn Quốc làm việc thì được L cho biết kinh phí là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng/01 người) với công việc “đóng bao bì Hồng S3” nếu anh T giới thiệu được người cho L và đưa được người sang Hàn Quốc thì L sẽ trả cho T 3.500.000đ/01 người tiền hoa hồng. Sau đó, L cung cấp số điện thoại 0378.963.xxx của L cho T và hướng dẫn T kết bạn với tài khoản Zalo Luân đang sử dụng (được đăng ký từ số điện thoại 0378.963.xxx) để trao đổi về việc làm hồ sơ, thủ tục xuất khẩu lao động.
Để tạo sự tin tưởng, L đã gửi hình ảnh Căn cước công dân của L cho T thể hiện tên là Nguyễn Đức L (sinh năm: 1992; Nơi thường trú: phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận - Số CCCD: [...]) hiện đang sinh sống và làm việc tại địa chỉ 31-33, H, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (quá trình xác minh thể hiện L không sinh sống và làm việc tại địa chỉ trên), đồng thời L lấy các thông tin trên mạng internet và cung cấp cho T nhiều thông tin sai sự thật có liên quan đến việc làm thủ tục và đưa người đi Hàn Quốc để xuất khẩu lao động. Do tin tưởng L nên từ khoảng tháng 01/2024 đến tháng 6/2024, theo sự hướng dẫn của L, anh T đã gửi cho L thông tin của 32 người để làm hồ sơ xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Lý Văn T sử dụng tài khoản số 8706215028953 của mình mở tại Ngân hàng N3 (A) chuyển 485.807.000 đồng vào tài khoản số [...] Ngân hàng TMCP Q1 (V) của Nguyễn Đức L và chuyển 17.650.000 đồng vào tài khoản L4 số [...] thuộc Ngân hàng TMCP P2 (OCB) của Nguyễn Đức L. Ngoài ra, T còn nhờ 05 người chuyển cho L số tiền 82.925.000 đồng, trong đó chuyển vào tài khoản số [...] của Nguyễn Đức L mở tại Ngân hàng TMCP Q1 (V) số tiền 79.725.000 đồng, vào tài khoản L4 số [...] thuộc Ngân hàng TMCP P2 (OCB) của Nguyễn Đức L số tiền 3.200.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Đức L đã nhận của Lý Văn T là 586.382.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, L không làm hồ sơ và không đưa được người đi xuất khẩu lao động như đã hứa hẹn mà chiếm đoạt, tiêu sài cá nhân hết.
Số tiền Lý Văn T đã nhận của 32 người có nhu cầu làm số hồ sơ đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc là 678.802.000 đồng, số tiền này T đã chuyển cho L 586.382.000 đồng. Số tiền còn lại 92.420.000 đồng, sau khi thấy L không đưa được người đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc, T đã sử dụng tiền này và tiền của cá nhân để trả lại cho 32 người đã đưa tiền cho T để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động và làm đơn tố cáo Nguyễn Đức L.
Cáo trạng số 37/CT-VKST-P2 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L mức án từ 12 năm đến 14 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đức L phải trả lại cho bị hại anh Lý Văn T số tiền 586.382.000 (năm trăm tám mươi sáu triệu ba trăm tám mươi hai nghìn) đồng.
Xử lý vật chứng, tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức L trình bày quan điểm nhất trí với điều luật Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L mức án từ 12 năm đến 13 năm tù.
Bị hại anh Lý Văn T đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 06/2024, để có tiền tiêu sài cá nhân, Nguyễn Đức L đã đưa lên mạng xã hội Facebook thông tin không có thật về việc L là người tuyển dụng người Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc. Do nghĩ thông tin L đưa ra là đúng, anh Lý Văn T đã nhận tiền của 32 người có nhu cầu xuất khẩu lao động và đưa cho L số tiền 586.382.000 đồng để L làm thủ tục, hồ sơ xuất khẩu lao động. Số tiền này L đã chiếm đoạt, chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bản cáo trạng số 37/CT-VKST-P2 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Bị cáo Nguyễn Đức L có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội hai lần trở lên" được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Đức L là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xử phạt tù, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Số tiền anh Lý Văn T đưa cho bị cáo là tiền do 32 người có nhu cầu sang Hàn Quốc xuất khẩu lao động đưa cho anh T. Sau khi nhận thấy bị cáo không đưa được người sang Hàn Quốc, anh T đã sử dụng tiền cá nhân trả lại hết cho 32 người trên. Do đó xác định bị hại trong vụ án là anh Lý Văn T. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, anh Lý Văn T yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 586.382.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt. Xét thấy yêu cầu của anh T là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Về vật chứng:
Đối với 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo: Có liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí:
Do bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Căn cứ điểm a khoản 4 điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 19/6/2025.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đức L phải trả lại cho bị hại anh Lý Văn T số tiền 586.382.000 đồng (năm trăm tám mươi sáu triệu ba trăm tám mươi hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về vật chứng:
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại Iphone 6s màu hồng, đã qua sử dụng, số máy: MKQR2J/A; số sê ri: FK6QPQ92GRYF, điện thoại lắp sim số: 0378.963.xxx. Chiếc điện thoại nêu trên được niêm Phong vào Phong bì thư do Phòng C3 Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Chiếc điện thoại Iphone 6s Nguyễn Đức L giao nộp ngày 15/6/2025 đã mở kiểm tra”. Mặt sau phong bì, các mép đều được dán kín, có họ tên, chữ ký của Nguyễn Thế M1, Phan Thị Phương H2, Nguyễn Đức L và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y.
(Vật chứng được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 27.455.280 đồng (hai mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm tám mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Khánh Vân |
Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 69/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 13 năm tù
