|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2025/HS-ST Ngày: 27/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và ông Trần Thanh Truyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS ngày 10/10/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 06/2025/HSST-QĐ ngày 24/10/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 07/2025/HSST-QĐ ngày 05/11/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/HSST-QĐ ngày 12/11/2025, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 05/TB-TA ngày 18/11/2025 đối với:
- Bị cáo: Trần Đình T, sinh năm 1969 tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Số I đường N, tổ dân phố A, phường P, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: giáo viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần L (chết) và bà Nguyễn Thị N (chết); Có vợ bà Nguyễn Thị H vào 02 con; Tiền án, tiền sự: không;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trường Trung học phổ thông T4.
- Người làm chứng:
Bị cáo đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Địa chỉ: Số E đường B, phường B, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo pháp luật: Bà Thiều Lê Phong L1 – Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Trung học phổ thông T4.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Đức P - Phó Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông T4 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1977 (có mặt).
Bà Phan Thị Băng C, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thùy T2, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Ông Hoàng Văn T3, sinh năm: 1984 (có mặt).
Ông Đàng Năng S, sinh năm: 1964 (có mặt).
Bà Ngô Thị Trúc M, sinh năm: 1977 (vắng mặt).
Ông Đặng Văn G, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số E đường B, phường B, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đình T là Hiệu trưởng Trường trung học phổ thông T4, theo quy định Hiệu trưởng trực tiếp giảng dạy 02 tiết/tuần, được hưởng tiền phụ cấp ưu đãi 30%. Trần Đình T đã trao đổi với tổ bộ môn toán và thầy Trần Đức P là Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn sẽ đứng lớp dạy 02 tiết/tuần môn toán lớp 12K8 thay cho lịch dạy trước đây của thầy Nguyễn Hữu M1 là Phó hiệu trưởng phụ trách đã nghỉ hưu. Tuy nhiên, trong thời khóa biểu giáo viên của trường kể từ ngày Trần Đình T đến nhận công tác đến hết năm học 2022-2023, không phân công Trần Đình T đứng lớp dạy 02 tiết toán/tuần lớp 12K8, cụ thể: Thời khóa biểu từ ngày 06/02/2023 đến ngày 09/4/2023 thể hiện thầy Nguyễn Hữu M1 đứng lớp 02 tiết/tuần lớp 12K8 và thời khóa biểu từ ngày 10/4/2023 đến hết năm học thể hiện thầy Lê Thanh T1 dạy toàn bộ số tiết môn toán lớp 12K8 (04 tiết/tuần). Thực tế từ ngày 01/3/2023 đến hết năm học Trần Đình T không trực tiếp đứng lớp dạy toán lớp 12K8, trong sổ đầu bài lớp 12K8 thể hiện thầy Lê Thanh T1 dạy tất cả các tiết toán. Trần Đình T khai nhận khi đến nhận công tác đã trao đổi với thầy Trần Đức P và một số giáo viên bộ môn toán về việc sẽ đứng lớp dạy 02 tiết/tuần môn toán lớp 12K8 thay cho lịch dạy của thầy Nguyễn Hữu M1 nghỉ hưu để đảm bảo đủ số tiết của Hiệu trưởng. Do trong thời gian này sức khỏe yếu phải nằm viện dài ngày nên từ khi nhận công tác đến hết năm học 2022-2023, Trần Đình T không dạy tại Trường trung học phổ thông T4 nhưng hàng tháng khi kế toán trình bảng lương xác nhận, Trần Đình T biết rõ trong bảng lương của mình có phần tiền phụ cấp ưu đãi đứng lớp, biết mình không đứng lớp nhưng vẫn xác nhận ký đóng dấu (Hiệu trưởng - Chủ tài khoản) vào bảng lương để nhận tiền phụ cấp ưu đãi đứng lớp, trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, Trần Đình T đã nhận 06 tháng tiền phụ cấp ưu đãi đứng lớp với tổng số tiền 16.290.240 đồng.
Đầu năm học 2023-2024, Trần Đình T trao đổi với thầy Trần Đức P và các giáo viên tổ toán về việc Trần Đình T sẽ dạy 01 tiết/tuần môn toán của lớp 12K2 dạy cùng với thầy Hoàng Văn T3. Tuy nhiên, trong thời khóa biểu giáo viên của trường từ đầu năm học đến hết tháng 02/2024 không phân công Trần Đình T đứng lớp dạy 01 tiết toán/tuần của lớp 12K2 mà toàn bộ số tiết môn toán lớp 12K2 do thầy Hoàng Văn T3 đứng lớp. Từ đầu năm học 2023-2024 đến hết tháng 02/2024, Trần Đình T không trực tiếp đứng lớp dạy toán lớp 12K2, trong sổ đầu bài lớp 12K2 thể hiện thầy Hoàng Văn T3 dạy tất cả các tiết toán. Từ tháng 3/2024 đến
hết năm học trong sổ đầu bài mới thể hiện Trần Đình T trực tiếp dạy môn toán lớp 12K2. Cuối tháng 02/2024 sau khi có thông tin Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức xác minh đơn tố cáo, Phan Thị Băng C là Phó hiệu trưởng phụ trách các hoạt động phong trào rà soát lại số tiết của Trần Đình T thấy trong công tác chuyên môn Trần Đình T chỉ được phân công dạy 01 tiết/tuần không đủ số tiết của Hiệu trưởng theo quy định nên bà C đã sửa lại Kế hoạch số 98a/THPTTC ngày 07/11/2023 của Trường trung học phổ thông T4 về việc dạy học của môn hoạt động giáo dục trải nghiệm năm học 2023-2024, bổ sung tên Trần Đình T vào kế hoạch với mục đích đối phó với đoàn thanh tra, hợp thức việc Trần Đình T có dạy chuyên môn và thực hiện các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm để đủ điều kiện nhận tiền phụ cấp ưu đãi đứng lớp. Quá trình điều tra bà C và Trần Đình T đã khai nhận trong năm học 2023-2024, Trần Đình T không tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm, không có kế hoạch, giáo án, chương trình, đề cương báo cáo để thực hiện các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm. Từ tháng 9/2023 đến tháng 02/2024 mặc dù không trực tiếp đứng lớp giảng dạy, không tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm nhưng ông T đã nhận đủ số tiền phụ cấp ưu đãi đứng lớp 06 tháng, với tổng số tiền đã nhận là 18.403.200 đồng.
Như vậy, từ tháng 3/2023 đến tháng 02/2024, mặc dù trong thời khóa biểu không được phân lịch đứng lớp dạy chuyên môn, không tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm nhưng Trần Đình T vẫn nhận đủ số tiền ưu đãi đứng lớp, với tổng số tiền 34.693.440 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 5 – Khánh Hoà giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Tham ô tài sản”, áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Đình T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và áp dụng biện pháp tư pháp theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận và nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật; xin lỗi các giáo viên, nhân viên của trường trung học phổ thông T4. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 02/2024, mặc dù không được phân công đứng lớp dạy chuyên môn, không tham gia các hoạt động ngoại khóa, giáo dục trải nghiệm nhưng Trần Đình T đã nhiều lần ký xác nhận vào bảng lương chiếm đoạt số tiền 34.693.440 đồng của Trường trung học phổ thông T4.
Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 134/CT-VKSKV5 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà truy tố bị cáo Trần Đình T là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: hành vi tham ô tài sản của bị cáo đã gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tham ô tài sản là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Tự nguyện bồi thường thiệt hại; Có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[5] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Đối với Nguyễn Thùy T2 là Kế toán Trường THPT T4, hàng tháng lập bảng lương, phụ cấp cho giáo viên nhà trường. Quá trình thực hiện, T2 không kiểm tra, theo dõi lịch phân công dạy học của giáo viên, không theo dõi các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm của Trần Đình T để chấm công theo đúng quy định mà chủ quan nhận định Trần Đình T sẽ tiếp tục thực hiện những công việc trước đây của Hiệu trưởng cũ trong đó có việc đứng lớp dạy học để hưởng phụ cấp nên T2 đã lập bảng lương trong đó có phần tiền phụ cấp đứng lớp cho Trần Đình T. Quá trình điều tra xác định, từ khi Trần Đình T về nhận công tác đến khi đoàn thanh tra của Sở Giáo dục và Đ tạo Ninh Thuận đến kiểm tra vào
cuối tháng 02/2024 thì Trần Đình T không trao đổi, chỉ đạo đối với T2 phải lập chứng từ để chi trả phụ cấp đứng lớp cho Trần Đình T. Việc T2 lập bảng lương chi tiền phụ cấp đứng lớp cho Trần Đình T là do T2 thiếu sự theo dõi, kiểm tra của kế toán, không có động cơ vụ lợi hay động cơ cá nhân khác, không được hưởng lợi gì.
Đối với ông Trần Đức P, từ khi Trần Đình T đến nhận công tác và giữ chức vụ Hiệu Trưởng THPT Tháp Chàm đã trao đổi, thông báo sẽ dạy môn toán của lớp 12K8 năm học 2022-2023 thay cho thầy Nguyễn Hữu M1 về hưu. Đầu năm học 2023-2024, Trần Đình T trao đổi với P dạy môn toán lớp12K2. Tuy nhiên, với vai trò là Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, phân công, theo dõi lịch dạy của giáo viên nhưng hàng ngày, hàng tháng P chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình, thiếu kiểm tra, giám sát dẫn đến để Trần Đình T không trực tiếp dạy chuyên môn từ tháng 03/2023 đến tháng 02/2024 nhưng vẫn nhận tiền phụ cấp đứng lớp. Quá trình điều tra, chưa có tài liệu, chứng cứ về việc P có động cơ vụ lợi hay động cơ cá nhân khác, không được hưởng lợi gì.
Đối với Phan Thị Băng C là Phó Hiệu trưởng trường THPT T4 phụ trách công tác đoàn, phong trào, cơ sở vật chất. Vào cuối tháng 02/2024 sau khi có thông tin Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức xác minh đơn tố cáo, Phan Thị Băng C phụ trách các hoạt động phong trào rà soát lại số tiết của Trần Đình T thấy trong công tác chuyên môn Trần Đình T chỉ được phân công dạy 01 tiết/tuần không đủ số tiết của Hiệu trưởng theo quy định nên bà C đã sửa lại Kế hoạch số 98a/THPTTC ngày 07/11/2023 của trường THPT T4 về việc dạy học của môn hoạt động giáo dục trải nghiệm năm học 2023-2024 và bổ sung tên Trần Đình T vào kế hoạch để hợp thức việc Trần Đình T có dạy chuyên môn, thực hiện các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm để đủ điều kiện nhận tiền phụ cấp ưu đãi đứng lớp. Việc C sửa lại kế hoạch này với mục đích hợp thức hồ sơ, đối phó với Đoàn thanh tra để không làm ảnh hưởng đến thành tích của nhà trường. Quá trình điều tra xác định, Trần Đình T không chỉ đạo C sửa lại kế hoạch số 98a/THPTTC ngày 07/11/2023 của trường THPT T4, C không có động cơ vụ lợi hay động cơ cá nhân khác, không được hưởng lợi gì.
Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Thùy T2, Trần Đức P, Phan Thị Băng C là phù hợp.
Đối với các nội dung khác theo đơn tố cáo. Quá trình điều tra xác định, Trần Đình T đã đưa ra một số chủ trương thu các khoản kinh phí tự nguyện của cha mẹ học sinh nhưng trong quá trình thực hiện chưa được sự thống nhất cao của phụ huynh học sinh, giáo viên nhưng vẫn tiến hành thu gây bức xúc trong giáo viên nhà trường và một số phụ huynh học sinh, đồng thời trong công tác quản lý tài chính việc thu chi các nguồn kinh phí chưa được chặt chẽ, chứng từ sổ sách theo dõi chưa đầy đủ, công tác quản lý, sử dụng tài sản chưa được thực hiện đảm
bảo theo quy định. Quá trình điều tra chưa có tài liệu, chứng cứ về việc có vụ lợi trong việc thu chi, số tiền thu được đã chi một phần, phần còn lại chưa chi nhà trường đang giữ nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý, đồng thời có văn bản đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh K kiểm tra xử lý theo quy định của ngành giáo dục là có căn cứ.
[7] Quá trình điều tra, Trần Đình T đã tự nguyện nộp lại số tiền chiếm đoạt là 37.760.640 đồng. Trong đó số tiền chiếm đoạt là 34.693.440 đồng, số tiền còn lại là 3.067.200đồng bị cáo không yêu cầu nhận lại, đồng ý sung vào ngân sách nhà nước nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Đình T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 353; Điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình T phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đình T 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Trần Đình T cho Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Khánh Hoà để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Căn cứ: Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: số tiền 37.760.640 đồng (ba mươi bảy triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn, sáu trăm bốn mươi đồng) theo Uỷ nhiệm chi số 029/CVL/241224_2211034 ngày 24/12/2024 của Kho bạc Nhà nước N1 (nay là Phòng G1 Kho bạc nhà nước khu vực XIV).
Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Về án phí: Bị cáo Trần Đình T phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |
Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ về hình sự (tham ô tài sản)
- Số bản án: 69/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đình T phạm tội Tham ô tài sản
