|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 69/2025/HS- ST Ngày: 26/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lực
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Diệp và ông Nguyễn Văn Quang
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 26/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2025/TLST - HS, ngày 04/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST - HS ngày 16/5/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 01/01/1996; N sinh: Huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn X, sinh năm 1961; con bà Lò Thị K, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ: Lù Thị K1, sinh năm 1998 và có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình.
- Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích, cụ thể:
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2021/HS-ST ngày 14/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lò Văn T 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 27/9/2021 Lò Văn T chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lò Văn T 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 31/5/2024, Lò Văn T chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.
- Tiền sự: Không có.
Bị cáo Lò Văn T bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/01/2025, đến ngày 24/01/2025 bị tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại Tân Uyên thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L (có mặt).
- Bị hại:
+ Anh Hàng A K2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh Hàng A T1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt).
+ Anh Hàng A S, sinh năm 1990. Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn T, sinh năm 1996, trú tại bản Nà Ban, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu là người có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, hiện chưa được xóa án tích.
Vào khoảng 09 giờ, ngày 21/01/2025, Lò Văn T điều khiển chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 99L3-0726 của T đi từ nhà đến bản H, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu với mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, khi đến bản H, xã P, huyện T, T đi đến nhà của gia đình anh H A K2, sinh năm 1994 thì thấy cửa nhà khóa và không có ai ở nhà. Lúc này T nhìn thấy trong sân của gia đình anh K2 có 02 con ngan, trong đó có 01 con ngan đực và 01 con ngan cái. Quan sát xung quanh không có người nên T đã dựng xe ở trên lề đường nội bản cách nhà của gia đình anh K2 12 mét, sau đó đi bộ vào sân mục đích trộm cắp. Khi đi vào trong sân, thấy sân rộng và khó bắt ngan nên T đã lấy 01 tấm ván gỗ có kích thước dài 1,8 mét, rộng 1,2m đang được dựng ở góc nhà để kê vào góc tường phía sau nhà nhằm mục đích chặn lối đi của con ngan. Sau đó T dồn bắt được 01 con ngan đực màu lông đen-trắng, có trọng lượng 5,1 kg (năm phẩy một ki lô gam). Sau khi bắt được con ngan nói trên, T nhặt 01 chiếc bao tải màu đỏ tại khu vực chăn nuôi gia súc gia cầm của gia đình anh K2 cách vị trí T bắt trộm con ngan 15 mét rồi cất giấu con ngan vào bên trong bao tải, sau đó xách ra vị trí đang để xe mô tô rồi điều khiển xe đi về.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T vừa điều khiển xe đi được khoảng 02-03m thì bị anh H A T1, sinh năm 1996 trú tại bản Hô Bon, xã P, huyện T phát hiện và yêu cầu T dừng xe nhưng T không dừng xe nên anh T1 đã dùng chân bên phải đạp vào yên xe của T làm chiếc xe và T ngã xuống đường, đồng thời T làm rơi chiếc bao tải màu đỏ bên trong đựng 01 con ngan mà T vừa trộm cắp của gia đình anh K2, sau đó T bỏ lại xe mô tô và con ngan rồi bỏ chạy. Trên đường bỏ chạy T bị anh T1, anh K2 và anh Hàng A S, sinh năm 1990, cùng trú tại bản Hô Bon, xã P đuổi bắt được và đưa đến trụ sở Công an xã P làm việc. Tại cơ quan Công an, Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 21/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành cân xác định 01 con ngan đực còn sống, màu lông đen-trắng do Lò Văn T trộm cắp của gia đình anh H A Khua có trọng lượng là 5,1kg (năm phẩy một ki lô gam).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 23/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, tỉnh Lai Châu kết luận: 01 con ngan đực còn sống, màu lông đen - trắng, có trọng lượng 5,1kg (đơn giá 85.000 đồng/kg) tại thời điểm định giá tháng 01/2025 trị giá 433.500 đồng (bốn trăm ba mươi ba nghìn năm trăm đồng).
Bản Cáo trạng số: 31/CT-VKS-TU ngày 04/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố Lò Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Người bị hại anh H A Khua vắng mặt tại phiên toà nhưng theo lời khai trong quá trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt, về trách nhiệm dân sự anh K2 không đề nghị bị cáo Lò Văn T bồi thường thiệt hại, về trách nhiệm hình sự đề nghị xét xử bị cáo theo đúng quy định của pháp luật, về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bao tải màu đỏ là vật không còn giá trị sử dụng.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc bao tải màu đỏ, tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99L3-0726.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại anh H A Khua không đề nghị bị cáo Lò Văn T bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo thuộc hộ nghèo nên miễn án phí cho bị cáo theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản Cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng không có lý do, bị hại vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy người làm chứng, bị hại vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, vì vậy việc vắng mặt của người làm chứng, bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293; Điểm d khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:
Bị cáo Lò Văn T là người có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” hiện chưa được xóa án tích. Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 21/01/2025, tại gia đình anh Hàng A K2, thuộc bản H, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo Lò Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 con ngan còn sống, màu lông đen-trắng, có trọng lượng 5,1kg, trị giá 433.500 đồng của gia đình anh K2, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
b) Đã bị kết án về tội này ..., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lò Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử 02 lần về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để tiếp tục giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại anh H A Khua không đề nghị bị cáo Lò Văn T bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
- Về vật chứng:
+ Đối 01 chiếc bao tải màu đỏ là vật không còn giá trị sử dụng, bị hại Hàng A K2 đề nghị tịch thu tiêu huỷ nên cần tịch thu tiêu huỷ.
+ Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99L3-0726 là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo đề nghị miễn án phí, theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đến vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2025
- Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 bao tải màu đỏ.
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 99L3-0726.
- Về án phí: Áp dụng khoản điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Lò Văn T để đảm bảo cho việc thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 10 phút, ngày 28/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh H A K không đề nghị bị cáo Lò Văn T bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lực |
Bản án số 69/2025/HS- ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 69/2025/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
