|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/HS-ST
Ngày: 25- 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Lập
- Ông Bùi Đức Nhân
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hạ Thu - Kiểm sát viên sơ cấp.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/TLST- HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tiến D (tên gọi khác: Không); sinh ngày: 21 tháng 11 năm 2003 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: tổ I, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: tổ H, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Tiến T và bà Lê Thị Ngọc L; có vợ là Vũ Phương L1 và có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 29/12/2024 đến ngày 07/01/2025 chuyên sang tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Người làm chứng: anh Nguyễn Sơn T1, sinh năm: 1987; trú tại: tổ D, khu C, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt)
- Người chứng kiến:
- Anh Bùi Mạnh C; sinh năm: 1988; nơi đăng ký thường trú: thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: tổ F, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt;
- Anh Nguyễn Đức K; sinh năm: 1994; trú tại: tổ E, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tiến D và Nguyễn Sơn T1 là bạn bè, T1 biết D có ma tuý cần sa để bán. Khoảng 15 giờ ngày 24/12/2024, T1 gọi điện thoại cho D hỏi mua cần sa, D báo giá 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) và hẹn giao dịch tại khu vực cửa Gara ô tô QN 4 x 4 thuộc tổ H, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đến 20 giờ ngày 24/12/2024, T1 đến điểm hẹn, D đã bán cho T1 01 túi cần sa. T1 chuyển khoản số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mua ma tuý từ tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần T3 (T4) số 15929355102 của T1 đến tài khoản Ngân hàng Q (M) số 0349861611 của D.
Đến 14 giờ 15 phút ngày 29/12/2024, khi D đang cất giấu ma tuý trong người ở khu vực cửa gara trên thì bị Công an thành phố H bắt quả tang, thu giữ trong tay phải D 01 túi nilon chứa 0,531g (không phảy năm ba một) gam ma tuý cần sa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, sử dụng 02 esim 0388143979 và 0349861611; 3.700.000đ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
Cùng ngày Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tiến D tại Gara ô tô QN 4x4 phát hiện tại gầm bàn gỗ có 01 hộp sắt đang bị khoá, tiến hành mở khoá thu giữ 01 lọ nhựa màu trắng, thân lọ in chữ “SHARK”, bên trong chứa 8,825g (T2 phảy tám hai lăm gam) ma tuý cần sa; 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 12 túi nilon chứa tổng cộng 6,296g (Sáu phảy hai chín sáu gam) ma tuý cần sa; 01 cân điện tử màu xanh. Thu giữ trong hộp các tông dưới đất ở gần cửa ra vào 01 túi nilon chứa 30 vỏ túi nilon.
Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến D khai nhận phù hợp với nội dung vụ án. Ngoài ra còn khai: nguồn gốc số ma tuý cần sa đã bán cho T1 và bị thu giữ là do D mua của một người thanh niên tên B (không rõ lai lịch địa chỉ) với giá 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) vào sáng ngày 24/12/2024 tại khu vực gần cửa cung văn hoá V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi mua được ma tuý, D đến cửa hàng T5 ở chợ H mua 01 cân điện tử và vỏ túi nilon mang về phòng ngủ tại Gara ô tô QN 4x4 cất giấu. Sau đó D đã lấy một ít ma tuý cần sa và sử dụng rồi chia nhỏ thành 14 túi cho vào 01 lọ nhựa cất giấu mục đích để bán với giá 300.000đ/01 túi khi có người hỏi mua, số ma tuý còn lại D cất giấu trong 01 lọ nhựa khác để bán hết 14 túi ma tuý thì tiếp tục chia nhỏ để bán kiếm lời.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Sơn T1 khai nhận phù hợp với Nguyễn Tiến D về thời gian, địa điểm mua bán ma tuý, số ma tuý mua của D, T1 đã sử dụng hết.
Vật chứng, tài sản trong vụ án: hộp niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 26/KL- KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, sử dụng 02 esim 0388143979 và 0349861611; 01 cân điện tử màu xanh; 01 hộp sắt; 01 khoá; 01 chìa khoá; 31 vỏ túi nilon Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long để quản lý theo quy định của pháp luật. Đối với số tiền 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) tạm giữ của D, hiện đang được bảo quản tại kho bạc Nhà nước.
Tại Bản cáo trạng số: 1591/CT- VKSHL ngày 24/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Tiến D, quá trình điều tra không xác minh được nên không có căn cứ để làm rõ xử lý. Đối với Nguyễn Sơn T1 là người mua tuý cần sa của Nguyễn Tiến D về sử dụng, Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cơ bản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D: từ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 29/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với: 01 (Một) hộp niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 (Một) cân điện tử mini màu xanh; 01 (Một) hộp sắt; 01 (Một) khoá; 01 (Một) chìa khoá; 31 (Ba mươi mốt) vỏ túi nilon không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu xám là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước; 02 (Hai) esim là loại sim kỹ thuật số được tích hợp trực tiếp trên điện thoại di động nên không đề cập xử lý.
Đối với 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Truy thu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo Nguyễn Tiến D bán ma tuý cho Nguyễn Sơn T1.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không ai khiếu nại về hành vi, quyết định tổ tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng được đảm bảo hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Tiến D thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ ngày 24/12/2024 tại khu vực trước cửa Gara ô tô QN 4x4 thuộc tổ H, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Tiến D có hành vi bán trái phép 01 túi ma tuý cần sa cho Nguyễn Sơn T1 với số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Hồi 14 giờ 15 phút ngày 29/12/2024, tại đoạn đường thuộc tổ H, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Nguyễn Tiến D có hành vi tàng trữ 0,531g (Không phảy năm ba mốt gam) ma tuý cần sa, mục đích để bán. Ngoài ra, D còn có hành vi tàng trữ 15,121g (Mười lăm phảy một hai mốt gam) cần sa tại nơi ở cũng nhằm mục đích để bán. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Tiến D, quá trình điều tra không xác minh được nên không có căn cứ để làm rõ xử lý. Đối với Nguyễn Sơn T1 là người mua tuý cần sa của Nguyễn Tiến D về sử dụng, Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tiến D là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại nhiều mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân người sử dụng, đồng thời ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, đến an ninh trật tự xã hội, từ ma túy sẽ kéo theo nhiều tệ nạn trong xã hội. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vì hám lời và coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo chưa có tiền án, tiên sự, lần đầu phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có ông nội bà nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, ông ngoại, bà ngoại được tặng thưởng huy chương kháng chiến, chiến sỹ vẻ vang nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy trước khi phạm tội, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: đối với 14,67g (Mười bốn phảy sáu bảy gam) cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định trong hộp còn nguyên niêm phong số 26/KL- KTHS ngày 04/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q thu giữ trong vụ án là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám (kiểu dáng Iphone 13Pro), tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận máy không lên nguồn vì vậy không xác nhận được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy kèm 02 (Hai) esim điện thoại, thu giữ trong vụ án của bị cáo Nguyễn Tiến D, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; đối với 01 (Một) cân điện tử mini màu xanh đã qua sử dụng, 01 (Một) hộp sắt đã qua sử dụng; 01 (Một) khoá đã qua sử dụng; 01 (Một) chìa khoá đã qua sử dụng; 31 (Ba mươi mốt) vỏ túi nilon đã qua sử dụng, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ; đối với số tiền 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[9] Đối với số tiền bán ma túy và thu lời bất chính từ việc bán ma túy cần truy thu, buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách nhà nước, cụ thể bị cáo D phải nộp lại số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và về xử lý vật chứng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 326 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 29/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, tài sản và số tiền liên quan đến việc bán ma tuý, thu lời bất chính:
Áp dụng: điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a,b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 14,67g (Mười bốn phảy sáu bảy gam) cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định trong hộp còn nguyên niêm phong số 26/KL- KTHS ngày 04/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (Một) cân điện tử mini màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (Một) hộp sắt, đã qua sử dụng; 01 (Một) khoá, đã qua sử dụng; 01 (Một) chìa khoá, đã qua sử dụng; 31 (Ba mươi mốt) vỏ túi nilon, đã qua sử dụng;
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám (kiểu dáng Iphone 13Pro), tại thời điểm giao nhận vật chứng các bên xác nhận máy không lên nguồn vì vậy không xác nhận được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy kèm 02 (Hai) esim điện thoại.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 136/BB- THA ngày 26/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải nộp lại số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến D: 3.700.000đ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
(Theo phiếu nhập kho lập ngày 09/01/2025, đơn vị: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, gói gửi số 1537, nhập tại kho: Kho bạc Nhà nước Q1, đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long và Biên bản giao nhận tài sản số 213/2025/BBBG – CQCSÐTCATPHL ngày 09/01/2025 tại Kho bạc nhà nước tỉnh Q1 giữa bên giao tài sản là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và bên nhận tài sản là Kho bạc nhà nước tỉnh Q1).
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |
Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Duy: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 29/12/2024
