Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỦ LÝ

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 69/2025/HS-ST

Ngày 14 - 4 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Man và bà Đoàn Thị Huệ.
  • Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Quàng Văn T, sinh năm 1985 tại Sơn La; nơi ĐKNKTT: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La; chỗ ở: Tiểu khu L, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá 7/12; Dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn C và bà Lò Thị N; Vợ: Quàng Thị H; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Tốt. Bị tạm giữ ngày 12/01/2025 đến ngày 21/01/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Tiến B, sinh năm 1958; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ ngày 12/01/2025 Quàng Văn T đi bộ từ khu tập thể Công ty A, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam đến ngã ba đường T C giao nhau với đường T T P thuộc phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam thì gặp một người nam giới khoảng 40 (không biết thân nhân lai lịch) hỏi mua ma tuý để sử dụng, T đưa cho người nam giới 200.000đ, người này cầm tiền, đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và bảo hàng ở bên trong, T cầm và mở ra kiểm tra thấy bên trong bao thuốc lá có một gói giấy bạc màu vàng bên trong có chất bột màu trắng dạng cục, biết đó là ma túy nên T gói lại và bỏ vào túi áo khoác bên phải sau đó đi bộ tìm chỗ sử dụng. T đi được một đoạn thì bị lực lượng Công an phường C, thành phố P thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, lúc này T bỏ chạy đến cổng khu công nghiệp C thuộc tổ dân phố D, phường C, thành phố P thì bị lực lượng Công an phường C phối hợp với lực lượng cảnh sát 113 Công an tỉnh Hà Nam đuổi kịp. Tại chỗ T giao nộp cho lực lượng công an 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng và khai nhận đó là gói ma túy vừa mua mục đích để sử dụng. Lực lượng công an đã đưa Quàng Văn T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường C lập biên bản theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT 01; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Ngày 12/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Quàng Văn T tại Tiểu khu L, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam, không thu giữ tài sản đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,219g, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKS-PL ngày 26/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Quàng Văn T như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi nội dung nào khác. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý loại Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố không có ý kiến tranh luận, bào chữa mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai và quan điểm của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và công bố lời khai của họ là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tội danh: Bị cáo Quàng Văn T đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra công khai tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ buộc tội kết luận:

Khoảng 8 giờ 15 phút ngày 12/01/2025, tại khu vực cổng khu công nghiệp phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Quàng Văn T đang cất giữ trái phép 0,219g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường C phối hợp với lực lượng Cảnh sát 113 Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng truy tố và lời buộc tội tại phiên toà của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân tốt, lần đầu phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu.

[5] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nguy hiểm khác trong cộng đồng. Vì vậy việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma tuý, mục đích để sử dụng, không trục lợi, bản thân không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng đã thu giữ:

Đối với số ma túy loại Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về vấn đề khác của vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ và người bán ma tuý: Bị cáo khai mua của người nam giới khoảng 40 tuổi, (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này) tại ngã ba đường T C giao nhau với đường T T P với giá 200.000đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch của người đã bán ma tuý cho bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 106;135;136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/01/2025; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong số 51/KTHS, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

    (Tình trạng đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 28/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).

  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Quàng Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND TP Phủ Lý;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - CQ CSĐT CA tỉnh Hà Nam;
  • - CQ THAHS có thẩm quyền;
  • - Chi cục THADS TP Phủ Lý;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký tên và đóng dấu)

Nguyễn Thị Mai Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 69/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger