Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – CAO BẰNG

Bản án số: 69/2025/HS-ST

Ngày: 05/12/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Cẩm Loan và bà Vũ Kim Hoa.

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Huê - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm – Phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng, điểm cầu thành phần – Trại tạm giam Công an tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2025/TLST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2025/QĐXXST-HS ngày 24/11/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức A, sinh ngày 18 tháng 7 năm 1994 tại xã T, tỉnh Cao Bằng.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Đức T, sinh năm 1969 và con bà: Dương Thị T1, sinh năm 1973; vợ: Bế Khánh T2 (đã ly hôn), con: 01 con, sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 18/4/2022 bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 06/9/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nông Quang L, sinh năm 1933.

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà có lý do.

- Người làm chứng: Ông Mã Xuân L1, sinh năm 1964, trú tại Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 15/4/2025, ông Nông Quang L, sinh năm 1933, trú tại tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu BOSSYM50 màu nâu, biển kiểm soát 11AA-003.68, đến trước cửa quán C tại tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng rồi đi vào bên trong quán.

Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, ông L phát hiện chiếc xe mô tô của mình đã bị mất trộm và đã đến trình báo tại Công an phường T, tỉnh Cao Bằng.

Qua quá trình xác minh xác định người thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của ông Nông Quang L là Nguyễn Đức A, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Tối ngày 14/4/2025, Nguyễn Đức A đi chơi về muộn nên ngủ lại tại một nhà nghỉ thuộc phường Đ (nay là phường T), tỉnh Cao Bằng. Đến khoảng 07 giờ ngày 15/4/2025, Đức A dậy trả phòng rồi đi ăn sáng. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi bộ theo con đường qua Trường P cũ thuộc tổ dân phố Đ, phường T đến khu vực đầu đường Q (đối diện quán C1), Đức A nhìn thấy một chiếc xe máy nhãn hiệu BOSSYM50 màu nâu, biển kiểm soát 11AA-003.68, dựng trước cửa quán C. Thấy xung quanh không có người trông giữ và chìa khóa vẫn cắm ở ổ khoá, Đức A nảy sinh ý định trộm chiếc xe này.

Đức A tiến lại gần, ngồi lên xe, nổ máy và điều khiển theo hướng đi qua Trường P Nội trú cũ, rồi ra Quốc lộ C cũ. Khi đến Tổ dân phố Đ, phường T, Đức A dừng lại trước nhà Nguyễn Đức T, sinh năm 1983, trú tại Tổ dân phố Đ, phường T với mục đích bán chiếc xe. T là người trước đó từng mua xe mô tô của bố đẻ Đức A để cho Đức A mang đi bán. Do T không có ở nhà, Đức A dựng xe trước cửa và đứng đợi.

Lúc này, ông Mã Xuân L1, sinh năm 1964, trú tại Tổ dân phố Đ, phường T, là hàng xóm của T, đi ngang qua. Đức A mượn điện thoại của ông L1 để gọi cho T. Khi trao đổi, Đức A nói rằng “em có một chiếc xe máy cũ, làm mất giấy tờ, muốn bán”. T yêu cầu tắt máy để kiểm tra xe qua camera giám sát tại nhà. Một lúc sau, T gọi lại và đồng ý mua chiếc xe với giá 600.000 đồng. Đức A dùng điện thoại của ông Lương N số tài khoản ngân hàng cho T để nhận tiền, rồi trả lại điện thoại cho ông L1. Sau đó, Đức A dựng chiếc xe trước cửa nhà T rồi đi bộ tới cây ATM tại vòng xuyến K Đ, phường T để rút tiền. Toàn bộ số tiền 600.000 đồng có được từ việc bán chiếc xe, Đức A đã sử dụng vào ăn uống và tiêu xài cá nhân.

Ngày 15/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C thu giữ đối với ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1983; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 11AA-003.68 và 01 chìa khóa xe.

Ngoài ra, thu giữ 03 video có lưu hình ảnh liên quan đến vụ án.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 18 ngày 06/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C kết luận: giá trị của chiếc xe máy nhãn hiệu BOSSYM50, màu nâu, biển kiểm soát 11AA-003.68 là 2.767.000 đồng (hai triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Đối với ông Nguyễn Đức T là người mua chiếc xe máy của Nguyễn Đức A, khi trao đổi mua bán ngày 15/4/2025, T biết chiếc xe của Đức A là xe cũ, không có giấy tờ nhưng không biết chiếc xe do trộm cắp mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với hành vi của ông T.

Đối với ông Mã Xuân L1 là người cho Nguyễn Đức A mượn điện thoại để trao đổi mua bán xe với Nguyễn Đức T, quá trình điều tra xác định ông L1 không quen biết Nguyễn Đức A, không hưởng lợi gì từ việc cho mượn điện thoại. Do vậy, cơ quan điều tra không xử lý đối với hành vi của ông L1.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSKV1 ngày 30/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Đức A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến và nhất trí với nội dung các bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản. Bị cáo cũng xác nhận 02 video mà Viện kiểm sát trình chiếu tại phiên toà, người trong video thực hiện hành vi trộm chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11AA-003.68 chính là bị cáo Nguyễn Đức A.

Bị hại ông Nông Quang L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và đã nhận lại xe nên không yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 600.000 đồng đã bỏ ra mua xe với bị cáo Nguyễn Đức A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A từ 12 đến 15 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nông Quang L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đức T không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/4/2025, tại khu vực sân trước quán C thuộc tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng, Nguyễn Đức A, do có nhu cầu cần tiền để phục vụ mục đích chi tiêu cá nhân, đã thực hiện hành vi lén lút trộm một chiếc xe mô tô nhãn hiệu BOSSYM50, màu nâu, biển kiểm soát 11AA-003.68 là tài sản hợp pháp của ông Nông Quang L. Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, giá trị chiếc xe mô tô bị chiếm đoạt tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội là 2.767.000 đồng (hai triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Đức A đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 08/CT- VKSKV1 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng truy tố bị cáo Nguyễn Đức A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, biết rõ hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma tuý, lười lao động, không chịu làm ăn chân chính, vì muốn có tiền phục vụ nhu cầu tiêu xài cá nhân nên đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt.

Về nhân thân, bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu: Ngày 18/4/2022, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như các vấn đề khác liên quan trong vụ án phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt. Xét thấy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung; vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới bảo đảm hiệu quả cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 11AA-003.68 và 01 chìa khóa xe. Cơ quan điều tra xác định chủ sở hữu của chiếc xe máy trên là ông Nông Quang L nên đã ra quyết định trả lại tài sản cho ông L vào ngày 09/6/2025 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với 01 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh liên quan đến vụ án tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án làm căn cứ giải quyết vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1, Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức A 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 9 năm 2025.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Đức A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND khu vực 1 – Cao Bằng;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Phòng THADS khu vực 1, tỉnh Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, AV

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Hoàng Quốc Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 69/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 15/4/2025, tại khu vực sân trước quán cơm Thanh Hiệu thuộc tổ dân phố Đề Thám 3, phường Thục Phán, tỉnh Cao Bằng, Nguyễn Đức A, do có nhu cầu cần tiền để phục vụ mục đích chi tiêu cá nhân, đã thực hiện hành vi lén lút trộm một chiếc xe mô tô nhãn hiệu BOSSYM50, màu nâu, biển kiểm soát 11AA-003.68 là tài sản hợp pháp của ông Nông Quang L. Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, giá trị chiếc xe mô tô bị chiếm đoạt tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội là 2.767.000 đồng (hai triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Đức A đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger