Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HS-PT

Ngày 24 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.

- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng và bà Phạm Thị Thúy Mai.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 70/2025/TLPT-ST ngày 18/4/2025 đối với các bị cáo Trương Bá M và Phạm Văn G.

Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Các bị cáo:

1. Họ và tên: Trương Bá M (tên gọi khác: không), sinh năm 1999; tại xã Đ, huyện Đ (nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Bá B (đã chết) và con bà Lê Thị C; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2024 đến ngày 06/3/2025 được trả tự do tại phiên tòa sơ thẩm (có mặt).

2. Họ và tên: Phạm Văn G (tên gọi khác: không), sinh năm 1988; tại xã Đ, huyện Đ (nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn G1 và con bà Lê Thị X; có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2024, đến ngày 14/10/2024 được tại ngoại (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 18/4/2024, Thiều Ngọc T1, Nguyễn Trung T2, cùng đến xưởng đá của anh Phạm Văn C1 ở tổ dân phố T, phường K, thành phố V để ăn uống, liên hoan cùng các công nhân trong xưởng. Sau khi cả nhóm ăn uống xong, anh T1 gọi điện cho Trương Bá M hỏi thăm thì M rủ anh T1 đến quán B1, địa chỉ ở phố Đ, phường K, thành phố V uống bia cùng M thì anh T1 đồng ý và rủ T2 đi cùng.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi anh T1 và T2 đến quán bia thì gặp M đang ngồi uống bia cùng với Bùi Khắc D nên anh T1, T2, M và D ngồi uống bia cùng nhau. Tại đây, anh T1 bảo M về đón Bùi Khắc H ra để uống bia cùng thì M đồng ý và điều khiển xe mô tô đến phòng trọ đón H. Lúc này, Phạm Văn G đang ở xưởng đá của anh C1, thấy anh T1 và T2 chưa về nên gọi điện cho anh T1 thì anh T1 bảo G ra đón anh T1 và T2 về, đồng thời gửi vị trí quán bia cho G qua ứng dụng Zalo. Khoảng 10 phút sau, G điều khiển xe mô tô đến quán bia thì thấy anh T1 với T2 vẫn đang uống bia nên G vào quán ngồi đợi anh T1 và T2. Khoảng 05 phút sau, do chưa thấy M quay lại nên D mượn xe mô tô của G về khu trọ của H để tìm M thì gặp M và H. Sau đó, M điều khiển xe mô tô chở H; còn D điều khiển xe mô tô của G quay lại quán bia. Lúc này, tại quán có H, M, T2, D và anh T1 ngồi uống bia với nhau, còn G ngồi ở bàn sát phía sau.

Quá trình uống bia, giữa anh T1 với M xảy ra mâu thuẫn với nhau về lời nói, sau đó M nói đi nói lại nhiều lần khiến T2 bực tức nói với M “Mày im đi” thì M nói “Em không im” nên T2 túm tóc và tát M 01 cái vào mặt khiến M ngã ngửa xuống nền nhà. Sau khi bị ngã, M đứng dậy chửi T2 nên T2 chửi lại M dẫn đến hai bên thách thức đánh nhau thì G, D và anh T1 đứng dậy can ngăn. Thấy vậy, anh Đỗ Hoàng C2 là chủ quán bia và anh Trần Thành H1 ở gần đó cũng chạy lại can ngăn, yêu cầu mọi người ra ngoài, không được cãi lộn trong quán thì H1, T2, M, G, D, anh T1 cùng nhau đi ra khỏi quán. Sau khi ra bên ngoài trước cửa quán bia, M và T2 tiếp tục chửi bới, thách thức đánh nhau. Do bực tức vì bị Mạnh chửi, T2 giơ tay đấm vào mặt M 01 cái rồi theo đà lao lên vỉa hè trước cửa quán bia. Thấy vậy, D vào ôm T2 can ngăn không cho T2 đánh M rồi đẩy T2 ngã trên vỉa hè, đồng thời thách thức đánh T2 nên T2 dùng tay đẩy mạnh vào người D. Thấy D bị T2 đánh, H1 lao vào cùng với D dùng tay đấm, đánh T2. Thấy T2 bị đánh, G lao vào đấm D thì D cũng đấm lại G rồi vật G xuống đất, đè lên người G để tiếp tục đấm G, đồng thời nói to “Mày là ai sao mà đánh tao”. Thấy vậy, T2 định vào giúp G đánh D thì M lao vào đấm T2, T2 quay lại đấm nhau với M thì bị Mạnh vật đè vào 01 chiếc xe ô tô đỗ giáp vỉa hè, lúc này có chị Lê Thị H2 (là bạn gái M) lao vào ôm giữ M để can ngăn. Trong khi G, T2, D, M, H1 đánh nhau, anh T1 vào can ngăn thì G chạy đi, do D đang bực tức nên đuổi đánh G nhưng không đuổi kịp; còn T2 và M vẫn đang cãi chửi, đánh nhau. Lúc này, anh C2 và anh H1 cũng vào để can ngăn nhóm của H1 và T2 nhưng không được. Khi hai nhóm đang đánh nhau thì H1 chạy vào sát cửa quán nhặt được 01 cây gậy inox dài khoảng 01 mét chạy về phía T2 để đánh T2 thì thấy D và G đang đánh nhau nên H1 dùng gậy vụt 01 cái vào phía G thì bị anh C2 và T1 can ngăn, giằng được gậy ném đi. Lúc này, M và T2 vẫn đang giằng co, đánh nhau trên vỉa hè sát cửa quán.

Bị giằng mất gậy, H1 tiếp tục chạy vào trong quán lấy ra 01 điếu cày bằng tre, dài khoảng 01m để đánh nhau. Do thấy H1 cầm điếu cày từ trong quán chạy ra để đánh nhau, anh C2 vào can ngăn thì bị H1 dùng điếu cày vụt 01 cái trúng vào lưng gần vai phải của anh C2 để anh C2 tránh ra rồi H1 tiếp tục cầm điếu cày đi tìm đánh T2. Thấy vậy, D đuổi theo và giật điếu cày trên tay H1 vứt xuống vỉa hè. Lúc này, thấy T2 đến gần nên H1 nhặt điếu cày lên rồi vụt 01 cái trúng vào vai phải của T2 thì anh T1 đến ngăn lại và giằng điếu cày trên tay H1 rồi vứt xuống lòng đường. Lúc này, T2 tiếp tục lao vào cãi chửi nhau với M trong khi M đang được anh T1 ôm can. Do bực tức vì M chửi nên T2 nhặt chiếc điếu cày anh T1 vừa vứt dưới lòng đường lên để đánh M thì M vùng khỏi tay anh T1 và bỏ chạy, T2 cầm điếu cày chạy đuổi theo đánh M. Thấy vậy, H1 chạy vào trong khu bếp của quán bia lấy ra 01 con dao chặt chuôi gỗ, dài 33cm, lưỡi dao hình chữ nhật, bằng kim loại, đuổi theo về phía T2 đang cầm điếu cày dồn đuổi đánh M. Lúc này, D đứng trước cửa quán thấy T2 cầm điếu cày đuổi đánh M; còn H1 cầm dao từ trong quán ra đuổi theo T2 thì D cũng chạy theo H1 dồn đuổi đánh T2. D chạy nhanh hơn vượt lên trước H1, đuổi kịp T2 rồi nhảy lên đạp hai chân vào T2 làm T2 ngã xuống đường. Sau khi nhảy lên đạp T2 thì D cũng bị ngã ra đất. Khi T2 chống tay để đứng dậy thì H1 từ phía sau chạy đến trước mặt T2, đứng cách T2 khoảng 01m, vung dao lên chém T2, T2 giơ tay trái lên đỡ thì bị H1 chém trúng vào khuỷu tay trái của T2. Sau đó, H1 tiếp tục vung dao lên chém T2 nhưng không trúng. H1 lại vung dao lên chém T2 01 phát thì trúng vào mặt trong gần khuỷu tay trái và tiếp tục chém 01 nhát trúng vào phần ngực bên phải của T2. Sau đó, H1 lại vung dao lên chém T2 nhưng không trúng, trượt xuống vỉa hè. Cùng lúc này, D đứng dậy và quay ra thì thấy H1 đang cầm dao trên tay nên chạy lại giật lấy con dao trên tay H1 rồi ném lên mái nhà của quán bia. Sau đó, T2 được anh C1, anh T1, G đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện L đến ngày 27/4/2024 thì ra viện; còn H1, M, D đi về phòng trọ để ngủ.

Sau khi về đến phòng trọ, H1 đi xe ôm đến khu vực nghĩa trang ở phường T, thành phố P để ngủ đến 07 giờ ngày 19/4/2024 thì tự bắt taxi vào Bệnh viện H3 để điều trị.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 163 ngày 19/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trung T2 tại thời điểm giám định là 07%.

Cơ quan Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung để tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Trung T2. Tại Bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 203 ngày 11/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trung T2 tại thời điểm giám định là 07%.

Ngày 04/10/2024, Nguyễn Trung T2 có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Bùi Khắc H về hành vi cố ý gây thương tích.

Ngày 07/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Bùi Khắc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2025/HS-ST ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Trương Bá M và Phạm Văn G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trương Bá M 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 299; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả tự do cho bị cáo Trương Bá M tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ về một tội phạm khác.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn G 02 (Hai) năm 03 (Ba) tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu), thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quyết định số: 630/QĐ-VKS-P7 ngày 08/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã Kháng nghị phúc thẩm Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên với nội dung: Hành vi do các bị cáo Trương Bá M và Phạm Văn G thực hiện phạm vào khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trương Bá M và Phạm Văn G theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là không đảm bảo căn cứ theo quy định của pháp luật; Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc sửa Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên theo hướng xét xử các bị cáo Trương Bá M và Phạm Văn G về tội “Gấy rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 và giảm hình phạt đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa có quan điểm vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 630/QĐ-VKS-P7 ngày 08/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử các bị cáo Trương Bá M và Phạm Văn G về tội “Gấy rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trương Bá M từ 01 năm 08 tháng tù đến 01 năm 10 tháng tù cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Phạm Văn G từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp hai, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về hình thức: Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; VKSND thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Trương Bá M và Phạm Văn G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các đồng phạm khác trong vụ án, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các kết luận giám định của cơ quan chuyên môn; lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 18/4/2024, tại quán B1, phố Đ, phường K, thành phố V, xuất phát từ mâu thuẫn trong sinh hoạt giữa Nguyễn Trung T2 với Trương Bá M đã dẫn tới T2 và Mạnh cãi, chửi, thách thức đánh nhau. Sau khi bị anh Đỗ Hoàng C2 (là chủ quán bia) yêu cầu ra khỏi quán thì cả hai đi ra ngoài khu vực trước cửa quán bia và tiếp tục cãi chửi, đánh nhau. Thấy vậy, Bùi Khắc D, Bùi Khắc H do bênh vực M đã xông vào đánh T2; còn Phạm Văn G do bênh vực T2 cũng xông vào đánh nhau với D và M. Quá trình đánh nhau, Bùi Khắc H đã lấy 01 gậy inox dài khoảng 01m trong quán bia vụt vào phía G và T2. Khi được anh Thiều Ngọc T1, anh Đỗ Hoàng C2 can ngăn, giằng được gậy và ném đi thì H tiếp tục chạy vào trong quán lấy ra 01 điếu cày bằng gỗ, dài khoảng 01 m để đánh nhau. Khi anh C2 vào can ngăn thì H cầm điếu cày vụt 01 cái vào lưng gần vai phải của anh C2 rồi tiếp tục cầm điếu cày vụt 01 cái trúng vào vai phải của T2 thì anh T1 đến ngăn lại và giằng điếu cày trên tay H vứt xuống lòng đường. Sau đó, T2 cầm điếu cày lên và đuổi đánh M. Lúc này, H tiếp tục chạy vào trong khu bếp của quán bia lấy 01 con dao chặt chuôi gỗ, dài 33cm, lưỡi dao bằng kim loại, đuổi theo chém nhiều nhát vào người T2, gây thương tích cho T2. Mặc dù trong quá trình đánh nhau, chỉ có H dùng gậy, điếu cày, dao để đánh nhau và T2 nhặt điếu cày của H rơi xuống đường trước đó để đuổi đánh M. Hậu quả của việc đánh nhau là T2 bị thương tích theo Kết luận giám định là 07%, sự việc đánh nhau gây náo loạn khu vực dân cư trong thời điểm nửa đêm, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Trương Bá M, Phạm Văn G tại phiên tòa và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.

Về tính chất của vụ án là tội phạm nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và làm gương cho người khác.

[4]. Xét về kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; Hội đồng xét xử thấy rằng: Xuất phát từ mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày dẫn đến việc cãi chửi rồi đánh nhau; Sự việc phạm tội ban đầu xảy ra việc cãi, chửi nhau tại quán B1 rồi sau đó các bị cáo kéo nhau ra ngoài đường Đ, phường K để đánh nhau. Trước khi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, chuẩn bị hung khí, không có mục đích gặp gỡ để đánh nhau mà do bột phát. Các bị cáo trong vụ án tham gia thực hiện tội phạm đều có vai trò người thực hành nên là đồng phạm giản đơn, chỉ có sự tiếp nhận ý chí rồi cùng nhau thực hiện tội phạm.

Các bị cáo thực hiện hành vi chửi bới, dồn đuổi đánh nhau trên vỉa hè rồi sau đó xuống đường giao thông, thời gian giữa đêm tối đã được nhiều người can ngăn nhưng vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm hậu quả gây náo loạn khu dân cư, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội; Phạm Văn G và Bùi Khắc D dùng chân tay đấm, đá nhau, khi Dương Đ thì G bỏ chạy ra xa, không quay lại đánh nhau nữa. Sau đó H lấy gậy inox đánh T2, được anh T1 ngăn cản giằng được gậy vứt đi thì H tiếp tục lấy điều cày đuổi đánh T2 lại được anh C2, anh T1 ngăn cản đã giật được điếu cày vứt xuống đường. Trong khi T2 đang đánh nhau với M thì T2 nhặt được điếu cày dồn đuổi đánh M. Thấy vậy, H chạy vào bếp lấy dao đuổi đánh T2; còn D nhìn thấy H cầm dao đuổi đánh T2 cũng tiếp nhận mục đích chạy theo H để dồn đuổi đánh T2; còn M lúc này đã bỏ chạy ra xa về phía trước. Khi H và D đuổi kịp T2 thì D đạp vào người T2 làm cả hai người bị ngã xuống đất, còn H chạy đến vị trí T2 bị ngã dùng dao chém nhiều nhát vào người T2 gây thương tích 07% sức khỏe. Quá trình dồn đuổi đánh nhau thì Bùi Khắc H sử dụng gậy inox, điếu cày, dao; còn Nguyễn Trung T2 nhặt điếu cày của H dưới đường trước đó để đuổi đánh M; Bùi Khắc D nhìn thấy H cầm dao đuổi đánh T2 thì không ngăn cản mà tiếp nhận ý chí cùng dồn đuổi theo mục đích đánh T2. Những đồ vật các bị cáo sử dụng để phạm tội bao gồm gậy inox, điếu cày và dao đều là hung khí nguy hiểm nên cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với các bị cáo Phạm Văn G và Trương Bá M, mặc dù cùng thực hiện hành vi chửi bới, dồn đuổi đánh nhau với các đồng phạm khác gây hậu quả ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. H trực tiếp sử dụng gậy inox, điếu cày, dao dồn đuổi đánh nhau; còn T2 sử dụng điếu cày dồn đuổi đánh nhau; lúc này mặc dù G, M cũng có mặt tại đó nhưng ở trị trí xa và đang trong tình trạng bị H, T2 dùng hung khí đuổi đánh nên không chịu trách nhiệm chung với hành vi sử dụng hung khí của H, T2. Vì vậy, hành vi do các bị cáo Phạm Văn G và Trương Bá M thực hiện đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Phạm Văn G và Trương Bá M về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 là không đúng quy định của pháp luật. Do vậy, kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc với nội dung hành vi của các bị cáo Phạm Văn G và Trương Bá M thực hiện đã phạm vào khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trương Bá M và Phạm Văn G về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự có quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, nay hành vi các bị cáo Phạm Văn G và Trương Bá M thực hiện được xác định đã phạm vào khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định hình phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm hình phạt đối với các bị cáo cho phù hợp quy định của pháp luật.

[5]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử các bị cáo Phạm Văn G và Trương Bá M về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[6]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phạm Văn G và Trương Bá M không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trương Bá M 01 (Một) năm 08 (T3) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trương Bá M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ (thành phố T), tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn G 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn G cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trọng

Phạm Thị Thúy Mai

Nguyễn Duy Sơn

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND thành phố Vĩnh Yên;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - UBND nơi được theo dõi, giám sát;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HS-PT ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 69/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Bá M và đồng phạm, phạm tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger