|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2025/HS-PT Ngày 18 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.
- Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà và ông Nguyễn Phước Hưng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXPT-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo Bùi Văn H, sinh năm 1972 và Nguyễn Việt H1, sinh năm 1978; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
- Bùi Văn H, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1972 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Số H, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Bùi Văn X (chết) và bà Ngô Thị H2, vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con; chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Việt H1, sinh ngày 21 tháng 6 năm 1978 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Số H, tổ B, khóm Đ, phường Đ (nay là phường M), thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L (chết) và bà Nguyễn Thị H3; chưa có chồng con; tiền sự: không;
Tiền án: Ngày 23 tháng 8 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tuyên xử phạt tiền 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; buộc nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, đến ngày 04 tháng 11 năm 2024 chấp hành xong;
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Việt H1: Ông Trần Tiến V, Luật sư Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh A, có mặt;
Trong vụ án còn có các bị cáo: Võ Hoàng Tuấn A bị xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”; các bị cáo Lâm Thị Bích T1, Hồ Bình A1 bị xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Lê Thị N, Nguyễn Chí C, Nguyễn Hoàng G, Hồ Lê Linh P, Lương Thị Thúy H4, Nguyễn Thị Mai P1, Vũ Thị Phương B, Trần Thị H5, Nguyễn Thị Thúy H6, Nguyễn Thị Quỳnh D, Mai Thị N1, Nguyễn Thiên L1, Lê Thị C1, Đoàn Thị Kim E, Trần Thị R, Nguyễn Thị T2 bị xét xử về tội “Đánh bạc”. Do không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại sân nhà của Bùi Văn H ở số H, tổ E, khóm T, phường M, thành phố L, Công an thành phố L bắt quả tang các đối tượng gồm: Võ Hoàng Tuấn A, Lâm Thị Bích T1, Hồ Bình A1 đang tổ chức cho Lê Thị N, Hồ Lê Linh P, Lương Thị Thúy H4, Nguyễn Hoàng G, Nguyễn Chí C, Mai Thị N1, Nguyễn Thị Huỳnh D1, Nguyễn Việt H1, Lê Thị C1, Đoàn Thị Kim E, Trần Thị R, Nguyễn Thị Mai P1, Vũ Thị Phương B, Trần Thị H5, Nguyễn Thiên L1, Nguyễn Thị Thúy H6, Nguyễn Thị T2 đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài binh 6 lá được thua bằng tiền.
Tang vật thu giữ gồm: T3 tại chiếu bạc số tiền 7.000.000 đồng; 52 lá bài tây (đã qua sử dụng), 01 chiếc chiếu, 09 bộ bài tây loại 52 lá (chưa sử sụng), 06 cái ghế nhựa, 12 ca uống nước nhựa và thu trên người của các bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan với tổng số tiền là 227.740.000 đồng; 19 chiếc điện thoại di động các loại; 01 xe mô tô Honda wave màu xanh biển số 67C1-797.02; 01 xe mô tô Scoopy màu trắng không gắn biển số có số khung MH1JM0427RK043735, số máy: JM04E2043776; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ biển số 67B2-826-90; 01 xe mô tô hiệu Vision màu trắng biển số 67B2-079.95; 01 xe mô tô Honda wave màu trắng đen bạc biển số 67L1-841.96; 01 xe mô tô biển số 67B2-196.93.
Quá trình điều tra xác định: Do không nghề nghiệp, cần tiền tiêu xài, từ ngày 05 tháng 8 năm 2024 đến ngày 12 tháng 8 năm 2024, Võ Hoàng Tuấn A đến hỏi thuê địa điểm trước sân nhà của Bùi Văn H ở số H, tổ E, khóm T, phường M, thành phố L với giá mỗi ngày 50.000 đồng để tổ chức đánh bạc. Sau đó, Tuấn A chuẩn bị bài (loại bài tây 52 lá), chiếu, các vật dụng phục vụ cho việc đánh bạc; thuê Hồ Bình A1 cảnh giới và Lâm Thị Bích T1 quản lý, thu tiền xâu với tiền công mỗi người một ngày 100.000 đồng, để tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền lấy tiền xâu. Hình thức đánh bài binh 6 lá, mỗi ván có 08 tụ, gồm 01 tụ cái và 07 tụ đặt, mỗi tụ đặt cược từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng, người làm cái chia 03 ván thì trả tiền xâu 50.000 đồng, nếu tụ cái thua nhiều thì cho làm cái thêm 02 ván, trong 02 ván này nhà cái thắng sẽ trả tiền xâu 50.000 đồng, nếu tụ cái tiếp tục thua thì trả tiền xâu 20.000 đồng. Còn các tụ đặt, nếu thắng 03 ván liên tiếp phải trả tiền xâu 10.000 đồng, nếu không thắng liên tiếp mà xen kẽ thắng thua thì phải có 03 ván thắng 02 thua mới trả tiền xâu 10.000 đồng. Tuấn A hoặc T1 thu tiền xâu đến cuối ngày đưa lại cho Tuấn A. Ngoài 01 tụ cái và 07 tụ đặt như trên, mỗi ván còn có người đánh bạc đặt có ké (có cái), tức đặt tiền giữa chiếu bạc để đặt có cái, dựa vào tụ cái tính thắng thua, nếu tụ cái thắng, thì đặt có thắng, tụ cái thua thì đặt có thua số tiền có cái. Người đặt có cái có thể là người đặt tụ, người bên ngoài (không tham gia đặt tụ). Nếu người nào bắt số tiền đặt có cái, thì thắng thua trực tiếp với người đặt có cái, người bắt số tiền đặt có cái có thể là người đặt tụ, người làm tụ cái và người không tham gia đặt tụ.
Khoảng 13 giờ ngày 12 tháng 8 năm 2024, Tuấn A đem 10 bộ bài tây 52 lá, chiếc chiếu, đến địa điểm trước sân nhà của H đã thuê để tổ chức đánh bạc, T1 đến chiếu bạc quản lý thu tiền xâu, còn B ngồi phía trước khu vực đánh bạc để cảnh giới cho Tuấn A, N, P1, P, B, G, C, H6, H4, L1, D1, N1, C1, H1, H5, Kim E, T2, R đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12 tháng 8 năm 2024, khi đang đánh bạc đến ván thứ 8 do N làm cái, Mai P1 chia bài, các tụ đặt gồm: H5 và H4 chung tụ, P và H1 chung tụ, N1, L1, G, C và B mỗi người một tụ; còn H6, G1, C1, Kim E, R, T2 đặt ăn có, thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, số tiền thu giữ trên chiếu bạc 7.000.000 đồng, trong đó: 2.500.000 đồng tiền các con bạc đặt tụ, 1.000.000 đồng tiền đặt ăn có, N chung cho người thắng 2.500.000 đồng và 1.000.000 đồng N để dưới chân tại chiếu bạc; tổng số tiền các bị cáo đã và sẽ dùng để đánh bạc là 39.500.000 đồng, gồm: Lê Thị N 10.000.000 đồng, Tuấn A 950.000; Hồ Lê Linh P 3.800.000 đồng; Nguyễn Chí C 1.720.000 đồng; Lương Thị Thúy H4 1.000.000 đồng; Nguyễn Hoàng G 960.000 đồng; Nguyễn Thị Thúy H6 200.000 đồng; Nguyễn Thị Quỳnh D 210.000 đồng; Trần Thị H5 600.000 đồng; Mai Thị N1 10.200.000 đồng; Nguyễn Thiên L1 1.000.000 đồng; Lê Thị C1 360.000 đồng; Trần Thị R 1.000.000 đồng, Nguyễn Thị T2 40.000 đồng; Đoàn Thị Kim E 40.000 đồng và trong thời gian tổ chức đánh bạc, Tuấn A đã thu được 200.000 đồng tiền xâu, Tuyền thu 220.000 đồng tiền xâu.
Tại Bản án số 206/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 năm tù về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luạt Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H1 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt: Bị cáo Võ Hoàng Tuấn A: 01 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 02 năm 03 tháng tù;
Các bị cáo Lâm Thị Bích T1 01 năm 03 tháng tù; Hồ Bình A1 01 năm tù cùng về tội “Tổ chức đánh bạc”;
Các bị cáo Lê Thị N 09 tháng tù; Nguyễn Chí C 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Nguyễn Hoàng G 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Hồ Lê Linh P từ 07 tháng tù; Lương Thị Thúy H4 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Nguyễn Thị Mai P1 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Vũ Thị Phương B 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Trần Thị H5 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Nguyễn Thị Thúy H6 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Nguyễn Thị Quỳnh D 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Mai Thị N1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Nguyễn Thiên L1 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Lê Thị C1 07 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Đoàn Thị Kim E 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Trần Thị R 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Nguyễn Thị T2 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo cùng về tội “Đánh bạc”;
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/12/2024, bị cáo Nguyễn Việt H1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Ngày 27/12/2024, bị cáo Bùi Văn H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Bị cáo H trình bày: Bị cáo đang bị bệnh phổi cần điều trị, sau khi bị phát hiện bị cáo đã ăn năn hối cải, chủ động nộp lại tiền thu lợi bất chính cho Công an, tiền thu được bị cáo cho cháu mua quà bánh.
- - Bị cáo H1 trình bày: Hoàn cảnh gia đình đang nuôi mẹ già bị bệnh, cần có người chăm sóc.
- - Người bào chữa cho bị cáo H1 trình bày quan điểm: ngoài các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã áp dụng, bị cáo H1 còn có các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo học lực thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi mẹ già trên 90 tuổi, bị bệnh; mặc dù bị cáo có tiền án bị phạt tiền về tội đánh bạc nhưng đến thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo đã chấp hành xong bản án. Ngoài ra, những người dân địa phương cùng ký đơn đề nghị xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc mẹ già. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo H1 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
- + Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: bị cáo kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo H và chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo H1, sửa bản án sơ thẩm số 206/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H1 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: các bị cáo H và H1 kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về Nội dung:
Lời khai của bị cáo Bùi Văn H tại phiên tòa phúc thẩm thừa nhận có thỏa thuận cho bị cáo Võ Hoàng Tuấn A thuê phần sân trước nhà tại số H, tổ E, khóm T, phường M, thành phố L để làm nơi tổ chức đánh bạc hình thức bài binh 06 lá ăn thua bằng tiền, tiền thuê mỗi ngày 50.000 đồng, đến ngày 12/8/2024 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Nguyễn Việt H1 thừa nhận có tham gia đánh bạc do Tuấn A tổ chức, hình thức bài binh 6 lá, bị cáo hùn tiền với Hồ Lê Linh P để đặt tụ và bị cáo còn được Lê Thị C1 nhờ đặt tiền giùm.
Lời khai của các bị cáo H, H1 phù hợp với kết quả điều tra và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án cùng với tang vật chứng thu được, có đủ căn cứ xác định, bị cáo H là người cho thuê địa điểm để Võ Hoàng Tuấn A tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc bằng hình thức bài binh 6 lá thắng thua bằng tiền. Trong đó, Tuấn A là người tổ chức, thu tiền xâu và cũng là người tham gia đánh bạc (chia bài giùm cho Lê Thị N); bị cáo Lâm Thị Bích T1 giúp sức cho Tuấn A thu tiền xâu, Hồ Bình A1 giúp sức cảnh giới, T1 và A1 được Tuấn A trả tiền công. Các bị cáo còn lại gồm: N, P1, P, B, G, C, H6, H4, L1, D, N1, C1, H1, H5, Kim E, T2, R tham gia đánh bạc. Theo kết quả điều tra xác định tổng số tiền dùng đánh bạc là 39.500.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Tuấn A, Bích T1, B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Bùi Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và hành vi của Tuấn A, N, Mai P1, T, Linh P, Phương B, Thúy H6, Chí C, H, H5, Quỳnh D, Việt H1, C1, Kim E, N1, Thiên L1, T2, R đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo theo tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng;
Bị cáo Bùi Văn H phạm tội gá bạc do mục đích vụ lợi, tạo điều kiện cho Tuấn A cùng với T1, B tổ chức cho các bị cáo khác trong đó có bị cáo Việt H1 đánh bạc trái phép. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là cần thiết.
Đối với bị cáo H, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo 01 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo trình bày bản thân đang bị bệnh phổi cần được điều trị, hoàn cảnh là lao động chính trong gia đình. Xét thấy, bị cáo phạm tội vì động cơ vụ lợi nhưng số tiền thu lợi bất chính không lớn, khi bị phát hiện, điều tra bị cáo đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối và chủ động giao nộp tiền thu lợi bất chính. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, có thể tự lao động cải tạo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo H là phù hợp. Do đó, xét không cần thiết cách ly bị cáo với xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục.
Đối với bị cáo Nguyễn Việt H1, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai bao, ăn năn hối cải. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng tái phạm, mức hình phạt 08 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu và trình bày bị cáo đang nuôi mẹ già bị bệnh, không có khả năng tự chăm sóc, cần có người nuôi dưỡng. Xét đây là tình tiết mới, chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xem xét chấp nhận một phần kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo H1 đề nghị áp dụng Điều 54 và 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận, bởi vì bị cáo H1 chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo khoản 6 Điều 3 Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị H được chấp nhận, kháng cáo của bị cáo H1 được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H và một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Việt H1; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Gá bạc”; bị cáo Nguyễn Việt H1 phạm tội “Đánh bạc”;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gá bạc”; thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án 18/3/2025;
Giao bị cáo Bùi Văn H cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục;
Nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải làm đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường nơi được giao giám sát, giáo dục, gửi cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H1 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Bị cáo Bùi Văn H và Nguyễn Việt H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 69/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (phúc thẩm)
- Số bản án: 69/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gá bạc, Đánh bạc
