Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HNST.

Ngày: 14/3/2025.

Về việc: “ Ly hôn "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Chương.

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Huỳnh Văn Dũng.

+ Ông Phạm Trung Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 610/TLST-HNGĐ ngày 31/10//2024 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp L, xã M, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1975. Nơi cư trú: ấp L, xã M, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 31/10/2024 và Biên bản hòa giải ngày 17/01/2025 chị C trình bày như sau:

Chị Phạm Thị C với anh Nguyễn Thanh Ph kết hôn với nhau vào năm 2000 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình và anh Ph thường xuyên cờ bạc gây nợ nần nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, mâu thuẫn kéo dài đến tháng 10/2024 thì trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay.

Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chung sống có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 21/3/2000 và cháu Nguyễn Thị Cẩm L1, sinh ngày 22/9/2001, hiện nay các cháu đã trưởng thành.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Nợ chung: không có.

Nay chị C khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ph.

Về con chung: Đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Nợ chung: không có.

Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Thanh Ph vắng mặt nhưng anh đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật, nhưng anh vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị C.

Đại diên Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, trong thời gian chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng bị đơn anh Ph không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C, cho chị C được ly hôn với anh Ph.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu tranh luận của đương sự Hội đồng xét xử có nhận định:

[1]- Về thủ tục tố tụng:

- Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị C yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ph nên xác định đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào địa chỉ sinh sống của anh Nguyễn Thanh Ph ở ấp L, xã M, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp được xác định là “ Ly hôn” theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Chị Phạm Thị C có đơn xin vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị C.

- Anh Nguyễn Thanh Ph đã được tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật, nhưng anh vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Ph.

[2]- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị C với anh Nguyễn Thanh Ph kết hôn với nhau vào năm 2000 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình và anh Ph thường xuyên cờ bạc gây nợ nần nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, mâu thuẫn kéo dài đến tháng 10/2024 thì trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay.

Tại phiên tòa hôm nay chị C vắng mặt nhưng tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 31/10/2024 và Biên bản hòa giải ngày 17/01/2025 chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ và cương quyết ly hôn với anh Ph. Riêng anh Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị C. Qua đó cho thấy anh cũng không quan tâm và mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị C với anh Ph đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hơn nữa chị C với anh Ph đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2024 cho đến nay nhưng vợ chồng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn, đoàn tụ nên chị C yêu cầu ly hôn với anh Ph là có căn cứ. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị C ly hôn với anh Ph.

[3]- Về con chung: Đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4]- Tài sản chung: Tự thỏa thuận; nợ chung: không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5]. Xét thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án đúng với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]- Về án phí: Chị Phạm Thị C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng:

  • Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị C, cho chị Phạm Thị C ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ph.
  2. Con chung: đã trưởng thành.
  3. Tài sản chung: tự thỏa thuận.
  4. Nợ chung: không có.

5- Án phí: Chị Phạm Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng dự phí đã nộp theo biên lai thu số 0016065 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, nên thi hành xong phần án phí.

5- Chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Thanh Ph được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cái Bè;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Bè ;
  • - UBND xã M;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Việt Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HNST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 69/2025/HNST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn C - PH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger