TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Cao Thị Kim Yến;
2/ Ông Đặng Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/6/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Xuân T, sinh năm 1995.
Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16/4/2025, bản khai của nguyên đơn chị Lê Thị Xuân T khai:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Lê Văn H cưới nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vả. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh H không có trách nhiệm với gia đình, gây nợ nần, mặc dù đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh H ly hôn nhau.
Về con chung: chị T và anh H có 02 con chung tên Lê Linh C – Sinh ngày 16/01/2016 và Lê Tường V – Sinh ngày 22/02/2023. Hiện 02 con đang ở với chị T.
Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Linh C – Sinh ngày 16/01/2016 và Lê Tường V – Sinh ngày 22/02/2023, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn H vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn. Bị đơn có địa chỉ tại thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Lê Thị Xuân T vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn anh Lê Văn H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Xuân T và anh Lê Văn H cưới nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận tại Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2015, quyển số 01/2014 ngày 18/3/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời chị T, quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vả. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh H không có trách nhiệm với gia đình, gây nợ nần, mặc dù đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh H ly hôn nhau.
Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H nhưng anh H cố tình lẩn tránh, vắng mặt không có lý do nên Tòa không tiến hành hòa giải vụ án được. Việc đó thể hiện việc anh H không thực hiện, tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Xuân T và anh Lê Văn H thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy, yêu cầu được ly hôn của chị T là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về con chung: chị Lê Thị Xuân T và anh Lê Văn H có 02 con chung tên Lê Linh C – Sinh ngày 16/01/2016 và Lê Tường V – Sinh ngày 22/02/2023.
Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Linh C – Sinh ngày 16/01/2016 và Lê Tường V – Sinh ngày 22/02/2023, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi sinh ra cho đến khi vợ chồng không sống chung với nhau, các con vẫn sống cùng chị T. Chị T vẫn chăm lo cho các con chu đáo. Vì vậy, việc giao 02 con chung tên Lê Linh C – Sinh ngày 16/01/2016 và Lê Tường V – Sinh ngày 22/02/2023 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ, tránh sự xáo trộn đối với cuộc sống của các con và phù hợp với nguyện vọng của cháu C.
Về vấn đề cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xem xét giải quyết.
Anh Lê Văn H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Lê Văn H được quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí:
Chị Lê Thị Xuân T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Anh Lê Văn H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Xuân T.
Chị Lê Thị Xuân T được ly hôn với anh Lê Văn H.
- Về con chung:
Chị Lê Thị Xuân T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Linh C – Sinh ngày 16/01/2016 và Lê Tường V – Sinh ngày 22/02/2023, chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Văn H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Lê Văn H được quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí:
Chị Lê Thị Xuân T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013216 ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.
Anh Lê Văn H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Huyền |
Bản án số 69/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 69/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
