Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 69/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2025
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Đặng Minh Lý
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Viết Xuân Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai K, sinh năm 1983; thường trú: Số C đường N, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Trần Hữu L, sinh năm 1979; thường trú: Số C đường N, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/02/2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai K trình bày:

Bà Nguyễn Thị Mai K và ông Trần Hữu L tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (GCNKH số 27/2002 ngày 03 tháng 5 năm 2002).

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn.

Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng cụ thể là ông L nghiện rượu, nghiện bia nên thường xuyên gây sự, đánh đập bà K. Bà K đã nhiều lần tha thứ và tạo điều kiện cho ông L thay đổi, xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng ông L vẫn tính nào tật nấy, đánh đập bà K trước mặt con. Ngoài ra, ông L không lo phụ giúp bà K làm ăn, kiếm sống lại thường xuyên nhậu nhẹt. Bà K cảm thấy vợ chồng không còn tiếng nói chung, ông L không tôn trọng bà K, vợ chồng không còn yêu thương nhau nên thường xuyên cãi cả, to tiếng với nhau.

Bà K nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng trầm trọng, mục đích kéo dài hôn nhân không đạt được, hạnh phúc và tình nghĩa vợ chồng không còn, vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 nên bà K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Trần Hữu L.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà K và ông L có 02 (hai) con chung là Trần Công M, sinh ngày 31/10/2003 và cháu Trần Tuyết N, sinh ngày 28/7/2005. Các con đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

*Bị đơn ông Trần Hữu L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp công khai tài liệu chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông L.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai K và bị đơn ông Trần Hữu L vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Vụ án thụ lý đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Mai K khởi kiện yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn”. Bị đơn ông Trần Hữu L có nơi cư trú tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:

Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai K và bị đơn - ông Trần Hữu L có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Mai K và ông Trần Hữu L theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai K và ông Trần Hữu Lâm C sống vợ chồng với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T (Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2002 ngày 03 tháng 5 năm 2002) nên hôn nhân của bà K và ông L là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông L không lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu, uống bia, bạo lực gia đình dẫn đến vợ chồng cãi vả, to tiếng và sống ly thân với nhau. Ông L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến làm việc, không tham gia hòa giải đoàn tụ. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc bà K và ông L là vợ chồng nhưng vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng chia sẻ, thực hiện các công việc chung trong gia đình. Quá trình tố tụng Tòa án triệu tập hợp lệ ông L nhiều lần nhưng ông L không đến Tòa án làm việc, không tham gia hòa giải đoàn tụ như vậy ông L đã thể hiện ý chí không muốn hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nên Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân của bà K và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mai K là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mai K và ông Trần Hữu L có 02 (hai) con chung là Trần Công M, sinh ngày 31/10/2003 và cháu Trần Tuyết N, sinh ngày 28/7/2005. Xét thấy, các con chung hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà K không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.

[4] Về án phí: Bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 14; các Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai K đối với bị đơn - ông Trần Hữu L về việc “Ly hôn”.
    • - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai K được ly hôn với ông Trần Hữu L.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mai K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mai K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0009269 ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủ Dầu Một;
  • - UBND phường Chánh Mỹ;
  • - Đương sự;
  • - Cổng Thông tin điện tử của Tòa án;
  • - Lưu: hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Huỳnh Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 69/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai K đối với bị đơn - ông Trần Hữu L về việc “Ly hôn”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger