|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Hồng Nhan;
- Ông Đoàn Văn Vui.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: chị Lê Út H, sinh năm: 1989;
Địa chỉ: 4, ấp N, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
-
Bị đơn: anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Xiêm B, sinh năm: 1951;
- Bà Phan Thị K, sinh năm: 1954;
Địa chỉ: ấp N, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
(Chị H, ông B, bà K có yêu cầu giải quyết vắng mặt; anh L có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 17 tháng 02 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Út H trình bày:
Chị với anh Nguyễn Văn Lý D tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn năm 2022, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian sau đó không còn hạnh phúc nữa. Nguyên nhân do vợ chồng hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, tính tình không hoà hợp, thường hay cải vả không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị đã tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên biết và cũng khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị với anh L ly thân mỗi người ở một nơi từ năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết đến nay, vợ chồng chị H vẫn còn ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn chưa được tháo gỡ. Nay, chị H xác định không còn tình cảm với anh L nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: anh chị 01 con chung là Nguyễn Lê Yến N, sinh ngày 29/12/2021, hiện cháu N đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Từ khi cháu N sống với chị H, chị H lo cho cháu N chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Chị H đang phụ bán quán cơm thu nhập ổn định khoảng 10.000.000 đồng/tháng nên đủ để lo cho cháu N.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày:
Những thông tin về hôn nhân, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn, thời gian ly thân của vợ chồng anh, chị H trình bày trên đây là đúng. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cãi vã, tính tình không hoà hợp. Anh và chị H đã ly thân mỗi người ở một nơi, mạnh ai người nấy sống, cuộc sống, sinh hoạt của nhau không ai biết đến ai. Nay, anh L xác định không còn tình cảm với chị H nên đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H, anh đồng ý.
Về con chung: anh chị có 01 con chung là Nguyễn Lê Yến N, sinh ngày 29/12/2021, hiện cháu N đang sống với chị H. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N. Từ khi cháu N sống với chị H, chị H lo cho con chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của con nhưng không bằng bên anh. Điều kiện kinh tế bên chị H cũng không được bằng bên anh nên cháu N sống với anh sẽ đảm bảo được chăm lo chu đáo. Hiện nay, anh có công việc ổn định, làm dừa thu nhập khoảng 7.500.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh L không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho anh sau khi ly hôn.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/5/2025 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị K và ông Lê Xiêm B trình bày:
Bà K và ông B là cha và mẹ của chị Lê Út H. Từ khi mẹ con chị H về sống với ông bà, chị H và ông bà thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Đối với việc chị H xin ly hôn với anh L, ông bà không có ý kiến gì, do vợ chồng chị H tự quyết định. Do ông bà lớn tuổi, đi lại khó khăn và ở xa nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, không có khiếu nại về sau.
Tại “Biên bản lấy lời khai” ngày 27/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên toà, anh L vẫn giữ nguyên lời trình bày. Anh L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Cháu N sống với chị H ổn định, chị H lo cho cháu chu đáo và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:
Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 21, 28, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H1, cụ thể:
- Về hôn nhân: chị H1 được ly hôn với anh L;
- Về con chung: giao chị H1 tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Yến N, sinh ngày 29/12/2021 sau ly hôn; anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
- Về cấp dưỡng vợ chồng sau ly hôn: không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: ngày 17/02/2025, chị Lê Út H khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Lê Út H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xiêm B, bà Phan Thị K có yêu cầu giải quyết vắng mặt phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị H:
Chị H, anh L tự nguyện kết hôn vào năm 2022 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là thị trấn P), huyện M, tỉnh Bến Tre, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/02/2022. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, vợ chồng thường hay cãi vã không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị H và anh L ly thân từ năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân, mỗi người sống một nơi, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết đến nay anh chị vẫn còn ly thân, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn của vợ chồng chị chưa được tháo gỡ, không có cải thiện. Chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng nên xin ly hôn với anh L. Đối với yêu cầu của chị H, anh L đồng ý. Điều này có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng của chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về nuôi con chung: chị H và anh L có 01 con chung là Nguyễn Lê Yến N, sinh ngày 29/12/2021, hiện cháu N đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N. Đối với yêu cầu này của chị H, anh L không đồng ý. Anh L cũng yêu cầu được nuôi cháu N. Xét thấy, cả anh L và chị H đều có nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cháu N. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, anh L thừa nhận từ khi cháu N sống với chị H thì được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Ngoài ra, từ trước đến nay cháu N sống với chị H, cuộc sống đã ổn định, không nên thay đổi người nuôi con làm xáo trộn cuộc sống của cháu nên cần giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu N là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.
[4] Về cấp dưỡng: chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Vì lợi ích con chung sau này, chị H có quyền yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về chia tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị H, anh L không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Út H xin ly hôn đối với anh Nguyễn Văn L.
- Về hôn nhân: chị Lê Út H với anh Nguyễn Văn L thuận tình ly hôn.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Yến N, sinh ngày 29/12/2021 cho chị Lê Út H tiếp tục nuôi dưỡng.
Ghi nhận chị Lê Út H không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con. Chị Lê Út H có quyền yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lê Út H với anh Nguyễn Văn L không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
2. Về án phí: chị Lê Út H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009369 ngày 02/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 69/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 69/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Út H tranh chấp Nguyễn Văn L
