|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-11-2025 V/v: “Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Xuân Tiếng
Ông Phạm Quốc Toàn
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trung – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 120/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 162/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1967.
Địa chỉ: số A, ấp X, xã A, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Ông Lê Văn B, sinh năm 1967.
Địa chỉ: số D, ấp Q, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
(Tại phiên tòa, bà H và ông B vắng mặt, ông bà có đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Bà H và ông B tự nguyện kết hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã A, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 18/8/2005. Sau khi kết hôn ông bà chung sống với nhau tại xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã A, tỉnh Vĩnh Long). Thời gian đầu, ông bà chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên tranh cãi, dẫn đến tình cảm rạn nứt trầm trọng, vợ chồng không chung sống với nhau nữa, ông bà sống riêng từ năm 2013 đến nay. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn hạnh phúc. Vì vậy, bà H xin được ly hôn với ông B.
- Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông B có 02 con chung tên Lê Đức H1, sinh ngày 01/3/1999 và Lê Ngọc T, sinh ngày 30/3/2006. Hiện hai con đã thành niên nên bà không yêu cầu giải quyết về người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà H khai không có.
- Về nợ chung: Bà H khai không có.
Do bận công việc nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.
Theo bản tự khai, đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Văn B trình bày:
-Về hôn nhân: Ông và bà H kết hôn vào năm 1998, đến ngày 18/8/2005 ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã A, tỉnh Vĩnh Long), hôn nhân do tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng không hợp ý nên đã sống riêng từ năm 2013 cho đến nay. Nay vợ chồng không thể hàn gắn, ông đồng ý ly hôn với bà H.
- Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông B có 02 con chung tên Lê Đức H1, sinh ngày 01/3/1999 và Lê Ngọc T, sinh ngày 30/3/2006. Hiện hai con đã thành niên nên ông cũng không yêu cầu giải quyết về người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông B khai không có.
- Về nợ chung: Ông B khai không có.
Do bận công việc nên ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông B. Bị đơn ông B cư trú tại xã T, tỉnh Vĩnh Long nên xác định đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7- Vĩnh Long theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H và ông B có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông bà.
[2] Về hôn nhân: Theo bản sao Giấy chứng nhận kết hôn do bà H cung cấp thể hiện Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã A, tỉnh Vĩnh Long) chứng nhận kết hôn cho bà H và ông B năm 2008. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà H trình bày, ông bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, ông bà đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Hiện bà H xác định không còn tình cảm với ông B nên xin được ly hôn. Ông B cũng thống nhất ông bà trong quá trình chung sống bất đồng quan điểm, không thể hàn gắn được, hiện tại mỗi người có cuộc sống riêng nên ông cũng đồng ý ly hôn với bà H.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân bền vững phải xuất phát từ sự tự nguyện và tình cảm thương yêu, mong muốn gắn bó từ cả vợ và chồng. Quá trình chung sống, bà H và ông B bất đồng quan điểm trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm đến nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai mong muốn hàn gắn, ông bà đều yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải cho ông bà được. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không ai mong muốn hàn gắn. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
[3] Về con chung: Bà H và ông B đều khai quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Lê Đức H1, sinh ngày 01/3/1999 và Lê Ngọc T, sinh ngày 30/3/2006. Hai con đều đã thành niên, ông bà không yêu cầu giải quyết về người nuôi con cũng như không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông B đều khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Bà H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H cụ thể tuyên:
- [1] Về hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Lê Văn B.
- [2] Về con chung: Bà Lê Thị H và ông Lê Văn B có 02 con chung tên Lê Đức H1, sinh ngày 01/3/1999 và Lê Ngọc T, sinh ngày 30/3/2006. Hai con đều đã thành niên, ghi nhận ông bà không yêu cầu giải quyết.
- [3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị H và ông Lê Văn B khai không có nên không xem xét.
- [4] Về án phí: Bà Lê Thị H có nghĩa vụ nộp án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006473 ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ghi nhận bà Lê Thị H đã nộp xong án phí.
- [5] Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngoan |
Bản án số 69/2025/HNGĐ-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG về ly hôn
- Số bản án: 69/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê thị H- Lê Văn B
