| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2025/HNGĐ-ST | |
| Ngày: 12-12-2025 | |
| V/v tranh chấp về ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Đức.
- Bà Hoàng Thị Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Đào Ngọc T, sinh năm 1972;
Nơi cư trú: Số nhà F, ngõ C, đường T, tổ H, phường T, tỉnh Hưng Yên.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970;
Nơi cư trú: Số nhà F, ngõ C, đường T, tổ H, phường T, tỉnh Hưng Yên. Nơi ở hiện nay: Số A hẻm E ngõ A đường D, thị trấn T, huyện N, Đài Loan (Trung Quốc).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị N trong việc giao giấy tờ, tài liệu và nhận văn bản tố tụng của Toà án: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Số nhà H, ngõ C, tổ H, phường T, tỉnh Hưng Yên.
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 04/8/2025, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đào Ngọc T trình bày:
Ông T và bà N tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn có đăng ký vào ngày 07/12/1993 tại UBND phường T, thị xã T, tỉnh Thái Bình nay là phường T, tỉnh Hưng Yên. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến việc vợ chồng ông đã sống ly thân từ thời điểm đó đến nay. Đến năm 2018 bà N sang Đài Loan làm việc. Kể từ thời điểm này, cả hai hoàn toàn không còn liên hệ với nhau do không có tiếng nói chung và khoảng cách địa lý xa cách. Tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung thực tế đã chấm dứt, cả hai không còn chăm sóc hỗ trợ lẫn nhau. Nay ông thấy mối quan hệ giữa ông và bà N không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc đoàn tụ không còn khả thi nên đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho ông được ly hôn với bà N theo quy định.
Về con chung: ông T và bà N có 02 con chung là Đào Hoàng D, sinh ngày 30/9/1994 và Đào Đức H1, sinh ngày 20/9/1999. Hiện nay cả 02 con đều đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Ông T và bà N tự chia, không yêu cầu Toà án giải quyết. Ông bà không nợ chung ai và không cho ai vay chung tài sản gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai bị đơn – bà Nguyễn Thị N trình bày: về thời gian, điều kiện kết hôn và mẫu thuẫn vợ chồng và con chung như ông T trình bày. Đến khoảng năm 2016 bà và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài và sống ly thân từ đó cho đến nay. Đến năm 2018 bà N sang Đài Loan làm việc, vợ chồng ly thân không còn quan tâm nhau. Cả hai bên đã từng cố gắng giữ gìn mối quan hệ hôn nhân nhưng không đạt được kết quả tích cực. Vợ chồng không còn khả năng hàn gắn. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho ông bà. Tại đơn xin vắng mặt ngày 02/12/2025 bà N đề nghị Toà án giải quyết việc xin ly hôn của ông T theo quy định của pháp luật. Về con chung vợ chồng có 02 con chung, hiện nay cả 02 con đều đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Về tài sản không yêu cầu Toà án giải quyết, vợ chồng không nợ chung ai và không cho ai vay chung tài sản gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai của chị Nguyễn Thị Thúy H thể hiện: Về mâu thuẫn của vợ chồng ông T bà N cũng giống như ý kiến ông T bà N đã trình bày. Gia đình cũng cố gắng hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Nay ông T xin ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của ông T. Bà N có nhờ chị H đại diện cho bà N nhận các văn bản tố tụng của Toà án để thông báo cho bà N. Chị H đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án và đã thông báo toàn bộ cho bà N. Khi nào Toà án có thông báo hay văn bản tố tụng gì, Toà án giao cho chị H, chị H sẽ có trách nhiệm thông báo cho bà N.
*Toà án tiến hành xác minh tại tổ H T, phường T, tỉnh Hưng Yên: Ông T và bà N đều có hộ khẩu thường trú tại số nhà F, ngõ C, đường T, tổ H, phường T, tỉnh Hưng Yên. Hai ông bà tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã T (nay là UBND phường T, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 07/12/1993. Hiện ông T đang làm việc và cư trú tại địa phương, còn bà N đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan (Trung Quốc) từ rất lâu nên không có mặt tại địa phương. Mâu thuẫn giữa hai ông bà như thế nào địa phương không nắm được. Hai ông bà có 2 con chung là Đào Hoàng D1 sinh năm 1994 và Đào Đức H1, sinh năm 1999. Nay ông T xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 và Nghị quyết 01 ngày 16/5/2024 của HĐTPTANDTC. Về quan hệ hôn nhân: xử cho ông T và bà N được thuận tình ly hôn. Về con chung: 02 con đều đã trưởng thành tự lập về kinh tế nên không đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết. Án phí: Chấp nhận việc ông T tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn, khởi kiện và có yêu cầu xin ly hôn do đó xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại phường T, tỉnh Hưng Yên nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng Dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[3] Về quan hệ hôn nhân: : Ông Đào Ngọc T và bà Nguyễn Thị N tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 07/12/1993 tại UBND phường T, thị xã T, tỉnh Thái Bình nay là phường T, tỉnh Hưng Yên nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Năm 2018 bà N đi xuất khẩu lao động, ông bà từ đó không còn liên hệ với nhau, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy hôn nhân giữa ông T và bà N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, xử cho ông T được ly hôn bà N.
[3] Về con chung: ông T và bà N có 02 con chung là Đào Hoàng D, sinh ngày 30/9/1994 và Đào Đức H1, sinh ngày 20/9/1999. Hiện nay cả 02 con đều đã trưởng thành tự lập về kinh tế không đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về quan hệ tài sản và nợ chung: Ông T và bà N không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm: ông T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng Dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025; Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào Điều 6, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Nghị quyết 01 ngày 16/5/2024 của HĐTPTANDTC.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Ông Đào Ngọc T được ly hôn bà Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Ông Đào Ngọc T và bà Nguyễn Thị N có 02 con chung là Đào Hoàng D, sinh ngày 30/9/1994 và Đào Đức H1, sinh ngày 20/9/1999. Hiện nay cả 02 con đều đã trưởng thành tự lập về kinh tế không đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng nên không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Ông Đào Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001773 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; Ông Đào Ngọc T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Ông Đào Ngọc T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Bà Nguyễn Thị N vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 69/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 69/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Ngọc T xin ly hôn Nguyễn Thị N
