|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2025/HNGĐ-PT Ngày: 26-5-2025 Về việc tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đặng Thị Bích Loan |
| Các Thẩm phán: | Bà Phạm Thị Thu Phương |
| Bà Lưu Thị Thủy Tiên |
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (số B đường L, phường B, Quận A) xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 38/2025/TLPT-HNGĐ ngày 07/3/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2284/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1988
- Địa chỉ: số C ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1988
- Địa chỉ: số C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- - Người có qyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1963
- Bà Dương Thị L, sinh năm 1966
- Địa chỉ: số C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (ông T2 và bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21/12/2021, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/5/2022 và trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị Thủy T - nguyên đơn trình bày:
Bà T và ông Nguyễn Minh T1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2015, Quyển số 01/2015 ngày 02/3/2015).
Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp, vợ chồng thường hay gây gỗ, không có sự tôn trọng và thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên cả hai đã sống ly thân.
Bà T cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trọng K, giới tính: Nam, sinh ngày 31/12/2015 và Nguyễn Ngọc P, giới tính: Nữ, sinh ngày 25/02/2018. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống, bà T cho rằng bà đã bỏ ra số tiền là 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng để cùng với ông T1 xây dựng căn nhà tọa lạc tại địa chỉ C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích xây dựng là 120m², kết cấu nhà cấp 4 - vách tường bê tông cốt thép, mái ngói; nhà được xây dựng trên đất của cha, mẹ chồng là ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Dương Thị L nên yêu cầu ông T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà số tiền này.
Về nợ chung: Bà T khai không có.
Theo bản tự khai ngày 27/01/2022, ông Nguyễn Minh T1 - bị đơn trình bày:
Ông T1 xác nhận những lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân là đúng đồng thời cũng xác định sau khi vợ chồng về chung sống với nhau thì phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn hòa hợp, cuộc sống không có hạnh phúc nên đồng ý ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Trọng K và giao trẻ Nguyễn Ngọc P cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông T1 xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có tạo lập tài sản chung là căn nhà tọa lạc tại địa chỉ C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và nguồn gốc nhà, đất như bà T trình bày; tuy nhiên, ông T1 chỉ đồng ý hoàn trả lại cho bà T số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
Về nợ chung: Ông T1 khai không có.
Ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Dương Thị L - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông T2 và bà L là cha, mẹ ruột của ông T1. Phần diện tích đất thuộc thửa 191, tờ bản đồ số 04 (theo tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh mà ông T1 và bà T xây dựng nhà ở là của ông T2 và bà L, phần đất này ông T2 đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 1121/QSDĐ ngày 20/8/1998, còn căn nhà trên đất là do ông T1 đứng tên xin phép xây dựng; hiện ông T2 chưa làm thủ tục tách thửa phần đất nêu trên cho ông T1 theo quy định.
Đối với yêu cầu khởi kiện của của bà T, ông T2 và bà L không có ý kiến và yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56, Điều 58; Điều 69; Điều 71; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86; Điều 107; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 92 của Luật Nhà ở năm 2014;
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ điểm a và b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thủy T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thủy T được ly hôn với ông Nguyễn Minh T1.
- Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Trọng K, giới tính: Nam, sinh ngày 31/12/2015 và trẻ Nguyễn Ngọc P, giới tính: Nữ, sinh ngày 25/02/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông T1 cho đến khi có yêu cầu.
Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2015, Quyển số 01/2015 đăng ký ngày 02/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Thủy T và ông Nguyễn Minh T1 không còn giá trị pháp lý.
Ông Nguyễn Minh T1 có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết có thể xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thủy T về việc chia giá trị đối với căn nhà tọa lạc tại địa chỉ số C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về nợ chung: Bà T và ông T1 xác nhận không có.
Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/01/2025 bà Nguyễn Thị Thủy T kháng cáo Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Nguyễn Minh T1 phải hoàn trả lại cho bà số tiền 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng với lý do trước đây bà đã bỏ ra số tiền này để cùng ông T1 xây dựng căn nhà tọa lạc tại C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn ông Nguyễn Minh T1, ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Dương Thị L vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn luật định.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng nguyên tắc xét xử, đảm bảo cho đương sự được phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm và tranh luận; đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
- Về nội dung kháng cáo:
Về hình thức: Ngày 20/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tuyên án và ban hành Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2025/HNGĐ-ST, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T có mặt; cùng ngày, bà T có đơn kháng cáo. Như vậy, căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, kháng cáo của bà T còn trong thời hạn luật định.
Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T với lý do quyền và lợi ích chưa được đảm bảo, nhận thấy:
Căn cứ Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có thể hiện nội dung nguyên đơn bà T có thông tin bị đơn ông Nguyễn Minh T1 đang bị tạm giữ.
Tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xác minh tại nơi cư trú với kết quả xác minh của Công an thị trấn T, huyện B trả lời như sau: “Hiện nay ông Nguyễn Minh T1 đang bị tạm giam tại Công an Thành phố H (P Quận F thuộc Trại tạm giam C). Ông T1 bị bắt từ ngày 14/9/2024”. Như vậy, có cơ sở xác định trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 đã bị bắt từ ngày 14/9/2024 và hiện đang bị tạm giam; tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã không tiến hành xác minh tình trạng cư trú của ông T1 mà xác định ông T1 vắng mặt và vẫn thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng bằng phương thức tống đạt gián tiếp giao cho người thân là bố/mẹ ruột của ông T1 nhận thay (Biên bản tống đạt gián tiếp ngày 28/10/2024, ngày 04/12/2024, ngày 26/12/2024) hoặc thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng (Biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho đương sự và Biên bản niêm yết công khai ngày 22/10/2024, ngày 14/02/2025); ngày 16/01/2025, Tòa án sơ thẩm xét xử vắng mặt ông T1 với lý do “triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn ông Nguyễn Minh T1 vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan”.
Căn cứ Điều 174, Điều 175 và Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T1 không đúng quy định nên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của bị đơn ông T1.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về hình thức: Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên tòa xét xử và tuyên án ngày 20/01/2025. Ngày 20/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nhận được Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thủy T; căn cứ quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Đơn kháng cáo của bà T còn trong hạn luật định nên có cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ, diễn biến tại phiên
tòa cùng lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- - Sau khi thụ lý vụ án, ngày 27/01/2022 ông Nguyễn Minh T1 có đến Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh cung cấp lời khai, tại Bản tự khai này ông T1 ghi nơi cư trú tại C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Trong quá trình tố tụng, vào các ngày 04/12/2024 và 26/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh lần lượt lập các biên bản tống đạt gián tiếp các văn bản tố tụng (gồm Giấy triệu tập xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa) cho ông Nguyễn Minh T1 thông qua người thứ ba là ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Dương Thị L (cha, mẹ ruột ông T1) cùng nơi cư trú với ông T1 tại địa chỉ C khu phố D, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh sau đó mở phiên tòa xét xử và tuyên án vắng mặt ông T1; tuy nhiên, theo Biên bản phiên tòa ngày 16/01/2025 (BL 182) bà Nguyễn Thị Thủy T trình bày ông Nguyễn Minh T1 hiện đang bị Công an tạm giữ đồng thời theo kết quả trả lời xác minh của Công an thị trấn T, huyện B Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/4/2025 thể hiện: “Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1988 có đăng ký thường trú tại địa chỉ C khu phố D, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện nay ông T1 đang bị tạm giam tại Công an T (Phân trại Trại tạm giam Công an Q thuộc Trại tạm giam C), ông T1 bị bắt từ ngày 14/9/2024”.
Như vậy, kết quả xác minh của Công an thị trấn T, huyện B như đã nêu trên phù hợp với lời trình bày của bà T tại phiên tòa sơ thẩm nên việc Tòa án sơ thẩm đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T1 thông qua người thứ ba (như đã nêu trên) và xét xử vắng mặt ông T1 là không đúng với quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đồng thời gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nên cần thiết phải hủy Bản án sơ thẩm số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm.
Do Bản án sơ thẩm bị hủy nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thủy T.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm nên bà Nguyễn Thị Thủy T không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Hủy Bản án sơ thẩm số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thủy T không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0051985 ngày 07/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Bích Loan |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: /2025/HNPT |
Thành phố H, ngày tháng năm 2025 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào lúc, giờ ngày tháng năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đặng Thị Bích L1. |
| Các Thẩm phán: | 1. Bà Phạm Thị Thu P1. |
| 2. Ông Vũ Tùng L2. |
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 38/2025/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 “ Tranh chấp về ly hôn”, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1988;
- Địa chỉ: Số C ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1988;
- Địa chỉ: Số C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có qyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1963 (vắng mặt).
- Bà Dương Thị L, sinh năm 1966 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Số C khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
I. Quan hệ pháp luật và điều luật áp dụng:
Áp dụng Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự : “Tranh chấp ly hôn”.
Căn cứ khoản 3 Điều 148; khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
II Tuyên xử:
Hủy Bản án sơ thẩm số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
III. Án phí:
Bà Nguyễn Thị Thủy T không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thủy T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án có kí hiệu BLTU/24P số 0051985 ngày 07 tháng 2 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
IV. Hiệu lực của bản án:
Căn cứ khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
Việc nghị án kết thúc lúc giờ phút cùng ngày. Các thành viên Hội đồng xét xử đã đọc và đồng ý ký tên./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
|
|
Phạm Thị Thu P1 |
Vũ Tùng lâm |
Đặng Thị Bích L1 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Bích Loan |
Bản án số 69/2025/HNGĐ-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 69/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
