Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số:69/2025/DS-ST

Ngày: 27-6-2025.

V/v tranh chấp QSD đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Dài.
  2. Ông Trần Quang Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chí P, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09, 23, 27 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 474/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp dân sự về Quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Trần Thị N, sinh năm: 1954;
  2. Chị Nguyễn Thị Kiều P1, sinh năm: 1987;
  3. Chị Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm: 1991;

Cùng nơi cư trú: Ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều O là chị Nguyễn Thị Kiều P1, theo Giấy ủy quyền ngày 09/5/2023 và ngày 10/02/2023.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Kiều P1 là: Ông Trần Thanh H, sinh năm: 1997, theo Hợp đồng ủy quyền 14/11/2023 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1 (H2), sinh năm: 1936;

Nơi cư trú: Số C, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H1 là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1, theo Hợp đồng ủy quyền ngày 30/5/2025 (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1976 (có mặt);
  2. Nơi cư trú: Ấp Tây Hạ, xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

  3. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1971 (có mặt);
  4. Nơi thường trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

    Nơi tạm trú: Ấp Tấn Quới, xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

  5. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1973;
  6. Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1976;
  7. Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

  8. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1975;
  9. Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang;

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Thị T3 là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1, theo Hợp đồng ủy quyền ngày 30/5/2025 (có mặt).

  10. Ông Nguyễn Tuấn E, sinh năm: 1982 (vắng mặt lần 2 không có lý do);
  11. Anh Đặng Ngọc S, sinh năm: 1996 (vắng mặt lần 2 không có lý do);
  12. Anh Đặng Ngọc D, sinh năm: 2001 (vắng mặt lần 2 không có lý do);
  13. Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

  14. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1971 (có mặt);
  15. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1973 (vắng mặt có đơn xin vắng);
  16. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1983 (có mặt).
  17. Cung nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  18. Bà Nguyễn Thị Tiến T4, sinh năm: 1985 (có mặt);
  19. Nơi cư trú: Ấp B, xã B, T, Đồng Tháp.

  20. Bà Phan Thị H3, sinh năm:1966 (có mặt);
  21. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp

  22. Ủy ban nhân dân huyện T.
  23. Người đại diện theo pháp luật là ông Võ Thành N1, chức vụ chủ tịch UBND huyện (vắng mặt có đơn xin vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2023 của bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều P1, chị Nguyễn Thị Kiều O, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử:

- Nguyên đơn bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều P1, chị Nguyễn Thị Kiều O, người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Thanh H trình bày: Bà N và ông B1 là vợ chồng, ông Nguyễn Văn B1 (chết năm 2021), có 02 người con Nguyễn Thị Kiều P1 và Nguyễn Thị Kiều O. Năm 1993 ông B1, bà N nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn H4, bà Huỳnh Thị C (đã chết), có làm Giấy bán đất ngày 06/4/1993, có sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn C1 (chết) và ông Đào Văn C2 (chết), nội dung “ Ông H4 và bà C đồng ý sang miếng đất diện tích 8 công tầm cắt (tương đương 11.800m²), với giá 08 chỉ vàng 24kra cho ông Nguyễn Văn B1”, ông B1 giao đủ 08 chỉ vàng 24kra và ông H4 đã giao diện tích đất 08 công nêu trên cho ông B1 sử dụng từ năm 1993 đến nay. Năm 1995 ông B1 đăng ký và được cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa 432, diện tích 9.884m², thửa 382, diện tích 1.962m², cùng tờ bản đồ số 03, tổng diện tích là 11.846m², mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc xã T, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 19/5/1995 cho ông Nguyễn Văn B1. Năm 2022, bà N nhận thừa kế quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên, phát hiện hộ bà N đang quản lý sử dụng canh tác lúa thửa 135, thửa 01 do ông H1 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, hộ gia đình ông H1 đang quản lý sử dụng canh tác lúa thửa 432, 382 do ông Nguyễn Văn B1 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.

Nay bà N, chị O, chị P1 yêu cầu ông H1 trả lại QSD đất thửa 432, 382 đang canh tác lại cho bà N, chị O, chị P1 và bà N, chị O, chị P1 thống nhất trả lại QSD đất thửa 135, 01 đang canh tác lại cho ông H1.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T3, ông Nguyễn Thanh T2 cùng ủy quyền cho ông T, bà T1 cùng trình bày: Ông H1 và bà T5 (chết năm 2021) là vợ chồng, có 06 người con gồm: Nguyễn Thị T1, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Tuấn E. Riêng anh Đặng Ngọc S và anh Đặng Ngọc D (cháu ngoại ông H1 và con ruột của bà T1), đăng ký hộ khẩu chung với ông H1. Nguồn gốc đất của ông nội Nguyễn Văn N2 (chết) cho ông H1 canh tác từ năm 1982, đến khoảng năm 1990 ông H1 giao lại cho bà T1 và ông T canh tác đến nay. Bà T1 đang canh tác thửa 382 và ông T đang canh tác 432. Ngày 12/7/2004, ông H1 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa 435 diện tích 7.115m²(L) và 436 diện tích 4.155m²(L), cùng tờ bản đồ số 3, mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc xã T. Ngày 31/10/2018 ông H1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi thửa 435 thành thửa số 01, tờ bản đồ 5, diện tích 5.255,2m² (L) và thửa 436 thành thửa số 135, tờ bản đồ số 3, diện tích 4.396,6m²(L), tọa lạc xã T.

Nay ông H1 không thống nhất trả lại QSD đất thửa 382, 432 đang canh tác lại cho bà N, chị O, chị P1 và yêu cầu giữ y hiện trạng đất đang canh tác, yêu cầu điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông B1 để cấp lại cho hộ ông H1 đúng như hiện trạng đất đang sử dụng, thống nhất trả lại QSD đất thửa 435, 436, tương ứng bản đồ địa chính chính quy là thửa số 01, 135 cho hộ ông B1 và bà N.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tuấn E, anh Đặng Ngọc S, anh Đặng Ngọc D: Vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Tiến T4 cùng trình bày: Cha Nguyễn Văn Q và mẹ Huỳnh Thị C (chết năm 2021), có 05 người con Nguyễn Văn D1, (chết năm 1993), Nguyễn Thị M, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn K và Nguyễn Thị Tiến T4. Nguồn gốc đất tranh chấp giữa bà N và ông H1 là của ông nội tên N2 cho ông Q. Ông Q nhận đất canh tác lúc chuyển vụ được 01 năm, canh tác không hiệu quả nên cho ông N3 thuê, đến khoảng năm 1991-1992 ông Q cho ông B1 cố lại phần đất diện tích 7 công 12, việc cố đất thỏa thuận miệng, giá cố là 07 chỉ vàng 24 kra, không có thỏa thuận thời hạn cố, có đủ vàng sẽ chuộc lại đất cố. Hộ ông B1 canh tác đến nay, gia đình không có điều kiện trả lại vàng cố nên không chuộc lại đất, cũng không có tranh chấp. Ông B1 được cấp giấy chứng nhận QSD đất các thửa số 432, 382 nêu trên các ông bà không hay biết, đến tháng 4/2023 nghe ông T là con ruột của ông H1 báo lại, ông B1 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất phần đất của ông Q cố cho ông B1. Nay các ông bà yêu cầu hộ bà N trả lại QSD đất diện tích 07 công 12 đã cố cho ông B1 và thống nhất trả lại số vàng cố đất cho hộ bà N với số vàng cố là 07 chỉ vàng 24kra.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T. Người đại diện theo pháp luật là ông Võ Thành N1: Vắng mặt có đơn xin vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến nên không ghi nhận được ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H3 trình bày: Bà H3 có thuê đất bà N canh tác diện tích không biết, việc thuê đất chỉ thỏa thuận miệng, thuê đất của bà N từ năm 2015 đến nay, giá thuê 10.000.000đ/1 năm, đất canh tác lúa 02 vụ, thời hạn thuê hết năm. Từ năm 2015 đến nay bà H3 thuê đất canh tác không có ai ngăn cản không cho canh tác, giao tiền thuê đất hàng năm đủ cho bà N. Nay bà H3 không có ý kiến tranh chấp đối với việc tranh chấp đất giữa bà N và ông H1, bà N không cho thuê và đòi lại đất canh tác bà H3 sẽ trả đất lại cho bà N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
  • Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng Điều 17, Điều 26, Điều 152 Luật đất đai năm 2004, Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc hộ ông Nguyễn Văn H1 trả lại diện tích đất thuộc thửa 382, diện tích là 2.067,6m² và thửa 432, diện tích 9954,6m², cùng tờ bản đồ số 03, tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Giữ y hiện trạng đất, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi lại Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông B1 và hộ ông H1, để điều chỉnh giấy chứng nhận phù hợp theo vị trí mà hai bên đang sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1.] Về tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Đất tranh chấp tại xã T, huyện T, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi có bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Hộ ông H1 đang quản lý sử dụng thửa 432, 382, nhưng giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông Nguyễn Văn B1 và bà N, chị O, chị P1 đang quản lý sử dụng thửa 435, 436, nhưng giấy chứng nhận QSD đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn H1, nên phát sinh tranh chấp QSD đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3.] Về việc vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tuấn E, anh Đặng Ngọc S, anh Đặng Ngọc D vắng mặt không có lý do, ông Nguyễn Văn Đ, ông Võ Thành N1 vắng mặt có đơn xin vắng. Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự nêu trên có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nên việc vắng mặt của các đương sự nêu trên không gây trở ngại đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.] Về pháp luật áp dụng: Áp dụng quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013, 2024 để giải quyết.

[3.] Về nội dung vụ án: Hộ ông B1 và người thừa kế của ông B1 là bà N, chị O, chị P1 đang quản lý sử dụng thửa đất số 435, 436 (bản đồ 299) tương ứng thửa 01, 135 (bản đồ địa chính chính quy), diện tích là 9651,8m² (diện tích thực đo là là 9.572,3m²), mục đích sử dụng đất trồng lúa nước, tọa lạc xã T, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 31/10/2018 cho hộ ông Nguyễn Văn H1. Hộ ông H1 đang quản lý sử dụng thửa 432, 382 (bản đồ 299) tương ứng một phần thửa 03, một phần thửa 126 (bản đồ địa chính chính quy), diện tích 11.846m² (thực đo 12.022,2m²), mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc xã T, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 19/5/1995 cho ông Nguyễn Văn B1. Bà N, chị O, chị P1 yêu cầu ông H1 trả lại QSD đất thửa 432, 382 hiện nay hộ ông H1 đang quản lý, sử dụng và bà N, chị O, chị P1 thống nhất chuyển trả lại QSD đất cho ông H1 thửa 435, 436 do bà N, chị O, chị P1 đang quản lý sử dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bà N, ông B1 nhận chuyển nhượng QSD đất từ ông H4, bà C không có đo đạc và đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, đã nhận đất canh tác từ năm 1993 đến nay là thửa 435, 436 (bản đồ 299) tương ứng thửa 01, 135 (bản đồ địa chính chính quy) ổn định, liên tục, công khai, lâu dài từ năm 1993 đến nay hơn 30 năm, không có ai tranh chấp, nhưng cơ quan có thẩm quyền không cấp cho ông B1 thửa 435, 436 mà lại cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông B1 thửa 382, 432 (bản đồ 299), tương ứng một phần thửa 126, 03 (bản đồ địa chính chính quy) hiện do hộ ông H1 đang quản lý sử dụng. Trong khi đó, hộ ông H1 đang quản lý sử dụng thửa 382, 432 liên tục, ổn định, công khai, lâu dài từ năm 1982 đến nay đã hơn 40 năm, không ai tranh chấp, nhưng cơ quan có thẩm quyền không cấp cho ông H1 thửa 382, 432 mà lại cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông H1 thửa 435, 436 hiện nay do bà N, chị O, chị P1 đang quản lý sử dụng.

Đến năm 2022, bà N, chị O, chị P1 và hộ ông H1 mới phát hiện việc cấp giấy chứng nhận QSD đất không đúng với thửa đất thực tế (hiện trạng đất đang sử dụng) các hộ đang sử dụng nêu trên. Khi phát hiện có sự sai sót, nhầm lẫn trong việc cấp giấy chứng nhận QSD đất nêu trên, bà N, chị O, chị P1 và hộ ông H1 không gửi văn bản kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất để kiểm tra, xem xét, ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai mà phát sinh tranh chấp QSD đất với nhau. UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với các thửa đất nêu trên cho ông B1 và hộ ông H1 là có sai sót về thông tin thửa đất, không đúng diện tích, không đúng đối tượng sử dụng đất. Do đó, đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất đính chính, thu hồi cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất cho ông B1 và hộ ông H1 theo đúng diện tích đất thực tế và vị trí thửa đất đang canh tác, đối tượng sử dụng đất theo quy định tại Điều 106 Luật đất đai năm 2013 và điểm b khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 152 Luật đất đai năm 2024. Bà N, chị O, chị P1 đang quản lý sử dụng thửa 435, 436 và hộ ông H1 đang quản lý sử dụng thửa 382, 432 là đúng vị trí thửa đất, diện tích đất, đối tượng sử dụng đất, nên yêu cầu khởi kiện của bà N, chị O, chị P1 không có cơ sở chấp nhận.

Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, chị O, chị P1 buộc ông H1 chuyển trả lại QSD đất thửa 432, thửa 382, diện tích là 11.846m2, mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc xã T, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 19/5/1995 cho ông Nguyễn Văn B1. Giữ y hiện trạng đất thửa 432, 382 (bản đồ 299), tương ứng một phần thửa 03, một phần thửa 126 (bản đồ địa chính chính quy), diện tích thực đo là 12.022,2m² cho hộ ông Nguyễn Văn H1 tiếp tục quản lý, sử dụng, canh tác. Giữ y hiện trạng sử dụng đất thửa 435, 436 (bản đồ 299) tương ướng thửa 01, 135 (bản đồ địa chính chính quy), diện tích thực đo là 9.572,3m² cho bà N, chị O, chị P1 tiếp tục quản lý, sử dụng, canh tác. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất có trách nhiệm đính chính, điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn B1, hộ ông Nguyễn Văn H1 nêu trên để cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất cho thành viên hộ ông B1 và người thừa kế của ông B1 là bà N, chị O, chị P1 và hộ ông H1 đúng theo hiện trạng sử dụng đất và đúng quy định pháp luật.

[4.] Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn bà N, chị O, chị P1 phải liên đới trách nhiệm chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 25.958.000đ (Hai mươi lăm triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn đồng), bà N, chị O, chị P1 đã nộp và chi xong.

Bị đơn ông H1 không phải chịu chi phí tố tụng.

[5.] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Nguyên đơn bà N, chị O, chị P1 phải liên đới trách nhiệm chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khẩu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0004461 ngày 13/12/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, bà N, chị O, chị P1 không phải nộp thêm.

Bị đơn ông H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6.] Đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Tiến T4 là con của ông H4 (Quạc), bà C (đã chết) yêu cầu hộ bà N trả lại QSD đất diện tích 07 công 12 và thống nhất trả lại số vàng cố đất cho hộ bà N là 07 chỉ vàng 24kra. Do bà M, ông Đ, ông K, chị T4 có ý kiến yêu cầu nhưng không có nộp đơn khởi kiện, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu.

[7.] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tuấn E, anh Đặng Ngọc S, anh Đặng Ngọc D vắng mặt không có lý do, không ghi nhận được ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8.] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H3 đang thuê quyền sử dụng đất thửa 435, 436 (bản đồ 299), tương ứng thửa 01, 135 (bản đồ địa chính chính quy) của hộ bà N, giữa hộ bà N và bà H3 không có yêu cầu giải quyết đối với Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9.] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 9 Điều 26; 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 101, Điều 104, điểm đ khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 106 Luật đất đai năm 2013 và điểm b khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 152 Luật đất đai năm 2024;

Căn cứ Điều 164, 166 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều P1, chị Nguyễn Thị Kiều O yêu cầu ông Nguyễn Văn H1 trả lại QSD đất thửa 382, diện tích 1.962m² và thử 432, diện tích 9.884m², cùng tờ bản đồ số 03, mục đích sử dụng đất lúa, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 19/5/1995 cho ông Nguyễn Văn B1 (bản đồ 299). Tương ứng một phần thửa 126, tờ bản đồ số 3 và một phần thửa 03, tờ bản đồ số 05 (bản đồ địa chính chính quy). Bà N, chị O, chị P1 thống nhất trả lại QSD đất cho ông Nguyễn Văn H1 thửa 435, diện tích 7.115m², thửa 436, diện tích 4.155m², cùng tờ bản đồ số 03, mục đích sử dụng đất lúa, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 12/7/2004 cho hộ ông Nguyễn Văn H1 (bản đồ 299). Tương ứng thửa 01, tờ bản đồ số 5, diện tích 5.255,2m² và thửa 135, tờ bản đồ số 3, diện tích 4.396,6m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 31/10/2018 cho hộ ông Nguyễn Văn H1 (bản đồ địa chính chính quy).
    1. Giữ y hiện trạng sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn H1 tiếp tục quản lý, sử dụng, canh tác đất diện tích 12.022,2m², trong phạm vi các mốc từ mốc M1, M2, M3, M1', M2', M3', M4', M5', M6', M11, M12, M13, M14, M15 về mốc M1, tại thửa 432, tờ bản đồ số 3, diện tích đất 9.884m² (diện tích thực đo là 9954,6m², tương ứng một phần thửa số 03, tờ bản đồ số 5 bản đồ địa chính chính quy) và trong phạm vi các mốc từ mốc M7', M8', M9', M10', M11', M42, M43, M44 về mốc M7', tại thửa 382, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.962m² (diện tích thực đo là 2067,6m², tương ứng một phần thửa số 126, tờ bản đồ số 3 bản đồ địa chính chính quy), mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 19/5/1995 cho ông Nguyễn Văn B1, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
    2. Giữ y hiện trạng sử dụng đất cho bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều O, chị Nguyễn Thị Kiều P1 tiếp tục quản lý, sử dụng, canh tác đất diện tích 9.572,3m², trong phạm vi các mốc từ mốc M14, M15, M16, M17 về mốc M14, tại thửa 1, tờ bản đố số 5 (tương ứng một phần thửa 435, tờ bản đồ số 3 bản đồ 299), diện tích 5225,2m² và trong phạm vi các mốc từ mốc M28, M29, M30, M31, M32, M33, M34 về mốc M28, tại thửa 135, tờ bản đồ số 3 (tương ứng thửa 436, tờ bản đồ số 03 bản đồ 299), diện tích 4.396,6m² (diện tích thực đo là 4.317,1m²), mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 31/10/2018 cho hộ ông Nguyễn Văn H1, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất có trách nhiệm, đính chính, điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn B1 và hộ ông Nguyễn Văn H1 nêu trên để cấp lại giấy chứng nhận QSD đất cho thành viên hộ ông Nguyễn Văn B1 và người thừa kế của ông Nguyễn Văn B1 là bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều P1, chị Nguyễn Thị Kiều O và hộ ông Nguyễn Văn H1 cho đúng quy định.

Bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều O, chị Nguyễn Thị Kiều P1 và hộ ông Nguyễn Văn H1 được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh lại quyền sử dụng đất và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

(Kèm Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; Sơ đồ đo đạc ngày 30/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Đồng Tháp).

  1. Về chi phí tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều O, chị Nguyễn Thị Kiều P1 phải liên đới trách nhiệm chịu 25.958.000đ (Hai mươi lăm triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn đồng), hộ bà N đã nộp và chi xong.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 không phải chịu chi phí tố tụng.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều O, chị Nguyễn Thị Kiều P1 phải liên đới trách nhiệm chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khẩu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0004461 ngày 13/12/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, bà Trần Thị N, chị Nguyễn Thị Kiều O, chị Nguyễn Thị Kiều P1 không phải nộp thêm.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2025). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS huyện;
  • - Chi cục THA DS huyện;
  • - Tòa án ND tỉnh;
  • - CTTĐT Tòa án;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lý Thị Bích Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp qsd đất

  • Số bản án: 69/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSD đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger