TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/DS-PT Ngày 26 tháng 3 năm 2025 V/v tranh chấp chia thừa kế, đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà, bà Phan Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Trần Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 314/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, đòi tài sản”. Do bản án dân sơ thẩm số: 312/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXPT-DS, ngày 05/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2025/QĐ-PT ngày 06/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Viễn Duy K, sinh năm 1979; địa chỉ: số G, hẻm T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Đại diện hợp pháp của ông K là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: KV T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (có mặt).
Bị đơn: Bà Lê Tú Như K1, sinh năm 1980; địa chỉ: số E, đường H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Huỳnh H, sinh năm 1969; địa chỉ: Số H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Lưu Thị Lệ H1, sinh năm 1972 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1962 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Cùng cư trú tại địa chỉ: ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1979 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Lê Quốc M, sinh năm 2004 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Lê Minh Q, sinh năm 2011 (đại diện hợp pháp của Q là ông K và bà L1); cùng cư trú tại địa chỉ: số G, hẻm T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng ông Nguyễn Văn Đ là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Viễn Duy K trình bày:
Cha, mẹ của ông K là cụ Lê Viễn K2 (chết năm 2021) và cụ Đoàn Thị C (chết năm 2019). Cụ K2, cụ C có 02 người con chung là Lê Viễn Duy K và Lê Tú Như K1. Di sản thừa kế của cụ K2, cụ C để lại là 01 căn nhà cấp 03, số tầng 03, tổng diện tích xây dựng là 165,6m², kết cấu: Khung sàn lầu BTCT + gỗ, nền, vách gạch, mái tole, xây dựng năm 2005 gắn liền diện tích đất 80m², thửa số 343, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03479QSDD/Ad, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 02/8/2004 cho ông Lê Viễn K2, bà Đoàn Thị C đứng tên. Năm 2006, bà K1 lấy chồng, mọi việc trong nhà, chăm sóc cụ K2, cụ C do vợ chồng ông K lo, khi cha mẹ chết thì ông lo ma chay, thờ cúng.
Năm 2017, do làm ăn thua lỗ nên bà K1 xin cụ C bán diện tích đất nông nghiệp 2.305m² tọa lạc tại xã B, huyện P, tỉnh An Giang thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0152363, số vào sổ 01625 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho cụ K2 đứng tên ngày 05/01/1999 cho bà Trần Thị Huỳnh H với giá 300.000.000 đồng để trừ khoản nợ của bà K1, ngoài ra ông K còn đứng ra trả nợ thay cho bà K1 số tiền 117.000.000 đồng tiền bà K1 nợ vợ chồng bà H1, ông L. Như vậy, bà K1 đã nhận tiền của gia đình 02 khoản là 417.000.000 đồng, căn nhà có giá trị khoảng 1.000.000.000 đồng, nên bà K1 đã hết quyền thừa kế.
Năm 2021, bà K1 về yêu cầu chia tài sản nhà, đất nêu trên của cha mẹ, giá trị là 2.000.000.000 đồng, bà K1 yêu cầu ông K dọn nhà đi thì bà K1 hoàn lại cho ông 1.000.000.000 đồng, ngược lại nếu ông K sống trong căn nhà thì phải hoàn lại cho bà K1 1.000.000.000 đồng. Ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận cho ông được thừa hưởng diện tích đất 80m², ông K xác định ngoài di sản nhà, đất nêu trên thì cụ K2 và cụ C không còn để lại tài sản nào khác, giá trị tài sản nhà, đất diện tích đất 80m² do Công ty Cổ phần T định là 1.629.661.950 đồng, ông K đồng ý giá này. Ông K đồng ý chia cho bà K1 50% giá trị tài sản là 814.830.975 đồng, nhưng yêu cầu bà K1 phải có trách nhiệm trừ lại 300.000.000 đồng tiền bán đất cho bà H để trừ nợ và trừ số tiền 117.000.000 đồng tiền ông trả cho bà H1, ông L trừ nợ cho bà K1.
Trong quá trình tố tụng bị đơn bà Lê Tú Như K1 trình bày và yêu cầu:
Bà thống nhất với lời trình bày của ông K về hàng thừa kế thứ nhất của cụ K2 và cụ C, di sản thừa kế của cụ K2 và cụ C để lại. Bà không thống nhất yêu cầu của ông K về việc ông K được nhận toàn bộ di sản nhà, đất nêu trên vì trước đây bà là người chăm lo cho gia đình, cất nhà cho cha, mẹ ở, ông K gây áp lực để đuổi bà ra khỏi nhà, do bà cần tiền làm ăn tìm nơi sinh sống, nên cha mẹ đã cho bà bán phần đất ở P để trả nợ cho bà khi cha mẹ còn sống, phần tiền bán đất này là cha mẹ cho riêng bà.
Đối với số tiền 117.000.000 đồng do bà nợ vợ chồng ông L, bà H1, khi bà vay của ông L, bà Hằng số tiền 200.000.000 đồng bà thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cha mẹ, bà đã trả cho ông L, bà H1 90.000.000 đồng, còn nợ lại 110.000.000 đồng, khi bà mang tiền đến trả nợ cho ông L, bà H1 thì ông K đã đến trả trước và nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà không vay tiền ông K để trả nợ, nay tự nguyện trả lại cho ông K số tiền này 110.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi, tại phiên tòa sơ thẩm bà đồng ý trả cho ông K 117.000.000 đồng do ông K trả cho ông L, bà H1.
Về di sản thừa kế nhà, đất bà đồng ý giá theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T, yêu cầu chia mỗi người 50% giá trị tài sản, nếu ông K nhận hiện vật thì hoàn giá trị lại cho bà, trường hợp ông K không nhận hiện vật thì bà đồng ý nhận và hoàn giá trị lại cho ông K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Huỳnh H trình bày tại Biên bản hòa giải ngày 25/10/2023, do bà bận công việc xin về trước hứa sẽ trở lại ký tên nhưng không trở lại trước sự chứng kiến của các đương sự khác, bà H khai bà K1 có vay của bà số tiền 300.000.000 đồng, sau khi vay tiền được khoảng 01 tuần thì bà K1 đã bỏ đi, nên bà liên hệ cha mẹ của bà K1 thì cha mẹ bà K1 đồng ý ký tên bán đất cho bà để trừ nợ cho bà K1. Bà ký hợp đồng nhận chuyển nhượng đất với cha, mẹ bà K1 là hợp pháp, phần đất bà nhận chuyển nhượng đã sang tên cho bà xong và bà đã bán cho người khác, việc tranh chấp thừa kế giữa gia đình K1, K không liên quan đến bà, bà yêu cầu không tham gia tố tụng và vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
- Ông Lê Quốc M trình bày tại Biên bản không hòa giải được ngày 18/01/2024 là thống nhất lời trình bày của cha là ông K.
- Đơn xác nhận ý kiến ngày 21/8/2024 bà Nguyễn Thị Kim L1 (vợ ông K) yêu cầu xem xét đến công sức đóng góp mua đất, xây nhà, bà yêu cầu xem xét cho bà 20% giá trị tài sản, bà xác định đây là ý kiến không phải là yêu cầu độc lập.
- Bà Lưu Thị Lệ H1, ông Nguyễn Thành L trình bày tại đơn xin không tham dự tòa ngày 01/10/2023 như sau: Bà K1 vay của ông, bà 100.000.000 đồng và thế chấp giấy tờ nhà đất, khoảng 01 tháng sau gia đình bà K1 trả cho ông bà 117.000.000 đồng và ông bà trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K, xin không tham gia hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa sơ thẩm: ông K xác định yêu cầu khởi kiện như sau: Đồng ý chia 50% giá trị tài sản cho bà K1, ông nhận toàn bộ hiện vật. Bà K1 phải hoàn trả 300.000.000 đồng; bà K1 phải hoàn trả 117.000.000 đồng, cùng tiền lãi 268.417.000 đồng tổng cộng là 685.417.000 đồng, số tiền này khấu trừ vào kỷ phần thừa kế của bà K1, còn bao nhiêu ông hoàn lại cho bà K1; bà K1 vẫn giữ nguyên yêu cầu được nhận 01 kỷ phần thừa kế, tự nguyện trả cho ông K 117.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi cho ông K.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 312/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 52, Điều 134, Điều 135, Điều 136, Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 616, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự 2015; căn cứ khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Lê Viễn Duy K về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ K2 và cụ C theo quy định pháp luật, cụ thể:
- Ông Lê Viễn Duy K được nhận toàn bộ di sản là diện tích đất 80m², thửa số 343, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03479 QSDÐ/Ad, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 02/8/2004 cho ông Lê Viễn K2, bà Đoàn Thị C đứng tên và 01 căn nhà cấp 3, gắn liền diện tích đất, số tầng 03, tổng diện tích xây dựng là 165,6m². Kết cấu: Khung sàn lầu BTCT + gỗ, nền, vách gạch, mái tole, xây dựng năm 2005.
- Ông Lê Viễn Duy K có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Lê Tú Như K1 số tiền 814.830.975 đồng.
- Ông Lê Viễn Duy K được quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký cấp lại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với phần diện tích đất 80m², thửa số 343, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03479 QSDÐ/Ad, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 02/8/2004 cho ông Lê Viễn K2, bà Đoàn Thị C đứng tên và 01 căn nhà cấp 3, gắn liền diện tích đất, số tầng 03, tổng diện tích xây dựng là 165,6m². Kết cấu: Khung sàn lầu BTCT + gỗ, nền, vách gạch, mái tole. Xây dựng năm 2005.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Tú Như K1 hoàn trả cho ông Lê Viễn Duy K số tiền 117.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Viễn Duy K về việc đòi bà Lê Tú Như K1 trả số tiền lãi 268.417.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Viễn Duy K về việc đòi bà Lê Tú Như K1 trả 300.000.000 đồng.
Ngoài ra, tòa sơ thẩm tuyên quyền yêu cầu thi hành án, lãi suất chậm thi hành án, án phí, chi phí tố tụng, thời hạn kháng cáo đối với các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án theo quy định pháp luật.
Người kháng cáo: Ngày 23/9/2024, ông Lê Viễn Duy K kháng cáo, yêu cầu công nhận toàn bộ di sản nhà, đất cho ông; yêu cầu công nhận công sức giữ gìn bảo quản tài sản cho ông hưởng 20% trị giá nhà, đất của số tiền 1.629.661.950 đồng tương ứng số tiền 325.932.390 đồng để khấu trừ vào số tiền 814.830.975 đồng phần bà K1 nhận từ việc chia di sản; yêu cầu Tòa án khấu trừ 417.000.000 đồng (tiền bán đất trả nợ cho bà K1 300.000.000 đồng, tiền trả nợ cho bà K1 117.000.000 đồng); yêu cầu chấp nhận lãi suất 0.8%/tháng đối với số tiền 117.000.000 đồng để trừ vào số tiền 814.830.975 đồng phần bà K1 nhận từ chia di sản, ngoài ra không yêu cầu gì khác. Bà K1 và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị bản án sơ thẩm.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Tại phiên tòa, ông K, ông Đ đại diện ủy quyền cho ông K cùng xác định, bà K1 không vay 117.000.000 đồng của ông K để trả nợ cho bà H1 ông L, bà K1 cũng không yêu cầu ông K trả nợ 117.000.000 đồng cho bà H1 ông L, ông K tự nguyện trả nợ thay cho bà K1. Năm 2017, cụ K2 (chết năm 2021) và cụ C (chết năm 2019) là cha mẹ ông có ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp 2.305m² do UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O152363, số vào sổ 01625 do cụ K2 đứng tên ngày 05/01/1999 cho bà Trần Thị Huỳnh H với giá 300.000.000 đồng để trừ khoản nợ của bà K1 vay 300.000.000 đồng của bà H, ông K thừa nhận căn nhà sàn lầu BTCT + gỗ, nền, vách gạch, mái tole, xây dựng năm 2005 gắn liền diện tích đất 80m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03479 QSDÐ/Ad do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 02/8/2004 cho ông Lê Viễn K2, bà Đoàn Thị C đứng tên trị giá 1.629.661.950 đồng là do cụ K2, cụ C tạo lập, ông và bà K1 là thừa kế duy nhất của cụ K2 và cụ C.
- Ông Đ đại diện ủy quyền cho ông K xác định tờ tường trình ông L2 ký tên đề ngày 03/3/2025 giao cho ông K cung cấp tại tòa phúc thẩm không có giá trị pháp lý, nhưng ông K, ông Đ đại diện ủy quyền cho ông K xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đó là yêu cầu công nhận toàn bộ di sản nhà, đất cho ông; yêu cầu công nhận công sức giữ gìn bảo quản tài sản cho ông hưởng 20% trị giá nhà, đất của số tiền 1.629.661.950 đồng tương ứng số tiền 325.932.390 đồng để khấu trừ vào số tiền 814.830.975 đồng phần bà K1 nhận từ chia di sản; yêu cầu Tòa án khấu trừ 417.000.000 đồng (tiền bán đất trả nợ cho bà K1 300.000.000 đồng, tiền trả nợ cho bà K1 117.000.000 đồng); yêu cầu chấp nhận lãi suất 0.8%/tháng đối với số tiền 117.000.000 đồng tương ứng số tiền 81.572.400 đồng để trừ vào số tiền 814.830.975 đồng phần bà K1 nhận từ chia di sản, ngoài ra không yêu cầu gì khác và không cung cấp thêm chứng cứ mới, đề nghị Tòa phúc thẩm xét xử vụ án theo pháp luật.
Bà K1 xác định, nhà đất tranh chấp thừa kế do bà và mẹ xây dựng, ông K không có công sức gì đối với di sản này, ông K cờ bạc, thiếu nợ, đối xử không tốt với cha, mẹ và gây áp lực đuổi bà ra khỏi nhà để chiếm hết di sản, bà không đồng ý nội dung kháng cáo của ông K, bà đề nghị tòa phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định.
Về nội dung:
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong vụ án, căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, cho thấy Tòa sơ thẩm đã xem xét toàn diện chứng cứ trong vụ án xác định di sản thừa kế của cụ K2, cụ C là căn nhà 03 tầng diện tích xây dựng là 165,6m² gắn liền trên diện tích đất 80m², thửa số 343, tờ bản đồ số 23 theo giấy chứng nhận QSD đất số 03479 QSDÐ/Ad, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 02/8/2004 cho ông Lê Viễn K2, bà Đoàn Thị C trị giá 1.629.661.950 đồng, xác định ông K bà K1 là thừa kế của cụ K2, cụ C là đúng quy định pháp luật. Tuyên xử ông K nhận toàn bộ hiện vật và hoàn lại cho bà K1 giá trị một kỷ phần thừa kế 814.830.975 đồng là có cơ sở. Việc ông K kháng cáo yêu cầu công nhận quyền thừa kế toàn bộ diện tích đất 80m² và căn nhà cấp 3 gắn liền với đất cho ông là không có cơ sở.
Đối với yêu cầu hưởng 20% giá trị nhà, đất do có công sức giữ gìn bảo quản tài sản (1.629.661.950 đồng x 20%) là 325.932.390 đồng và trừ vào số tiền 814.830.975 đồng phần tiền bà K1 được nhận từ di sản, nhận thấy việc ông K cho rằng mình có công sức trong việc bảo quản tài sản chung, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh công sức của mình làm gia tăng giá trị di sản, cấp sơ thẩm không ghi nhận có sự gia tăng giá trị tài sản do công sức riêng của ông K, nên ông K kháng cáo yêu cầu là không có cơ sở.
Đối với số tiền 300.000.000 đồng từ giao dịch chuyển nhượng đất không phải là di sản thừa kế, vì giao dịch đã diễn ra khi cụ C và cụ K2 còn sống, thuộc quyền định đoạt của hai cụ. Không có tài liệu nào thể hiện ý chí của hai cụ về việc khoản tiền này sẽ được khấu trừ vào kỷ phần thừa kế của bà K1.
Đối với khoản nợ 117.000.000 đồng phát sinh từ việc ông K tự nguyện thanh toán nợ thay cho bà K1 để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong vụ án này, bà K1 không có cam kết vay tiền của ông K, không có thỏa thuận về lãi suất, cũng không có nghĩa vụ hoàn trả lãi. Ở giai đoạn sơ thẩm bà K1 tự nguyện hoàn trả cho ông K số tiền 117.000.000 đồng nên không có cơ sở để tính lãi. Do đó, ông K kháng cáo yêu cầu tính lãi 0,83%/tháng, cụ thể 117.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 84 tháng = 81.572.400 đồng là không có cơ sở.
Ông Lê Viễn Duy K kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét chấp nhận, đề nghị Tòa phúc thẩm
không chấp nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc ông K chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]
Tòa sơ thẩm tuyên án ngày 11/9/2024, ngày 23/9/2024 ông K kháng cáo, yêu cầu công nhận toàn bộ di sản nhà, đất cho ông; yêu cầu công nhận công sức giữ gìn bảo quản tài sản cho ông hưởng 20% trị giá nhà, đất của số tiền 1.629.661.950 đồng tương ứng số tiền 325.932.390 đồng để khấu trừ vào số tiền 814.830.975 đồng phần bà K1 nhận từ chia di sản thừa kế; yêu cầu Tòa án khấu trừ 417.000.000 đồng (tiền bán đất trả nợ cho bà K1 300.000.000 đồng, tiền ông trả nợ cho bà K1 117.000.000 đồng); yêu cầu chấp nhận lãi suất 0.8%/tháng đối với số tiền 117.000.000 đồng để trừ vào số tiền 814.830.975 đồng phần bà K1 nhận từ chia di sản thừa kế, ngoài ra không yêu cầu gì khác và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định, nên yêu cầu kháng cáo của ông K được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2]
Tòa án đã tống đạt hợp lệ triệu tập những người tham gia tố tụng khác trong vụ án nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3]
Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L1 (vợ ông K), cụ thể bà L1 có văn bản yêu cầu xem xét cho bà được hưởng 20% giá trị tài sản đang tranh chấp do bà có công đóng góp trong việc mua đất, xây nhà. Tuy nhiên ngày 21/8/2024 bà L1 có văn bản xác định đây chỉ là lời trình bày ý kiến không phải là yêu cầu độc lập của bà L1 (vợ ông K), bà L1 không thực hiện thủ tục khởi kiện yêu cầu độc trong vụ án này, nên cấp sơ thẩm không thụ lý giải quyết yêu cầu độc lập của bà L1 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[1.4]
Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên, không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]
Xét nội dung ông K kháng cáo yêu cầu bà K1 phải trả lãi suất 0.8%/tháng đối với số tiền 117.000.000 đồng tương ứng số tiền 81.572.400 đồng cho ông thì thấy,
S tiền 117.000.000 đồng là tiền bà K1 nợ ông L, bà H1 vào năm 2017, không phải nợ của ông K đối với ông L, bà H1. Bà K1 cũng không yêu cầu hay vay của ông K số tiền 117.000.000 đồng để trả nợ cho ông L, bà H1, ông K tự nguyện trả 117.000.000 đồng cho ông L, bà H1 thay cho bà K1 để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cùng vợ và các con sử dụng nhà đất là di sản thừa kế của cụ K2 và cụ C chết để lại (như ông K thừa nhận tại phiên tòa phúc
thẩm), nên đủ căn cứ xác định giữa bà K1 với ông K không phát sinh hợp đồng vay tài sản đối với số tiền 117.000.000 đồng. Hơn nữa, việc ông K đứng ra trả nợ thay bà K1 để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cùng vợ và các con sử dụng nhà, đất là có lợi cho ông K, trong khi bà K1 phải ra ngoài tìm nơi khác sinh sống, tại cấp sơ thẩm bà K1 tự nguyện trả lại cho ông K 117.000.000 đồng, tòa sơ thẩm đã tuyên bà K1 trả cho ông K 117.000.000 đồng nên quyền lợi của ông K vẫn được đảm bảo, nên ông K kháng cáo yêu cầu bà K1 phải trả lãi suất 0.8%/tháng đối với số tiền 117.000.000 đồng tương ứng số tiền 81.572.400 đồng cho ông K là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2]
Xét nội dung ông K kháng cáo yêu cầu công nhận toàn bộ toàn bộ di sản nhà, đất cho ông; yêu cầu trích công sức giữ gìn bảo quản tài sản cho ông hưởng 20% trị giá nhà, đất của số tiền 1.629.661.950 đồng tương ứng số tiền 325.932.390 đồng thì thấy,
Chứng cứ tại vụ án thể hiện, cụ Lê Viễn K2 (chết năm 2021) và cụ Đoàn Thị C (chết năm 2019) là quan hệ vợ chồng, 02 cụ có 02 con chung là ông K và bà K1. Cụ K2 và cụ C tạo dựng tài sản chung là căn nhà 03 tầng khung sàn lầu BTCT + gỗ, nền, vách gạch, mái tole, nhà xây dựng năm 2005 nằm trên diện tích đất 80m², thửa số 343, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03479QSDÐ/Ad, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho ông Lê Viễn K2, bà Đoàn Thị C đứng tên ngày 02/8/2004 tổng trị giá nhà, đất 1.629.661.950 đồng (nhà, đất này hiện do vợ chồng ông K quản lý sử dụng).
Cụ K2 và cụ C chết không để lại di chúc, nên nhà đất nêu trên là di sản thừa kế của cụ K2 và cụ C để lại được chia thừa kế theo pháp luật cho ông K với bà K1 mỗi người hưởng một suất được chia theo pháp luật tương ứng số tiền 814.830.975 đồng (trị giá 1.629.661.950 đồng : 2 = 814.830.975 đồng) là đúng pháp luật, cấp sơ thẩm đã xem xét điều kiện thực tế nhu cầu sử dụng di sản nhà, đất, nên tuyên xử cho ông K được nhận toàn bộ di sản nhà, đất trên, tuyên buộc ông K có nghĩa vụ hoàn lại cho bà K1 giá trị một kỷ phần thừa kế tương ứng số tiền 814.830.975 đồng là có lợi cho ông K và đúng pháp luật, di sản nhà, đất nêu trên do cụ K2 và cụ C tạo lập trong thời kỳ hôn nhân không phải của ông K, nên việc ông K yêu cầu công nhận toàn bộ di sản nhà, đất cho ông, yêu cầu trích công sức giữ gìn bảo quản tài sản nhà, đất trên cho ông hưởng 20% trị giá nhà, đất của số tiền 1.629.661.950 đồng tương ứng số tiền 325.932.390 đồng không có căn cứ chấp nhận.
[2.3]
Xét nội dung ông K kháng cáo yêu cầu khấu trừ 300.000.000 đồng tiền cha, mẹ ông bán đất trước khi chết trả nợ cho bà K1 và số tiền 117.000.000 đồng vào số tiền 814.830.975 đồng bà K1 được chia thừa kế thì thấy,
Diện tích đất nông nghiệp 2.305m² do UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0152363, số vào số 01625 cho cụ K2 đứng tên ngày 05/01/1999, nên diện tích đất 2.305m² là tài sản chung của cụ K2 và cụ C tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Năm 2017, bà K1 nợ bà Trần Thị Huỳnh H 300.000.000 đồng, thời điểm cụ K2 và cụ C còn sống, nên cụ K2 và cụ C có quyền định đoạt
tài sản đối với diện tích đất nông nghiệp 2.305m², cụ thể cụ K2 và cụ C ký tên chuyển nhượng diện tích 2.305m² cho bà H để trừ khoản nợ của bà K1 số tiền 300.000.000 đồng, điều này được chứng minh nếu cụ K2 và cụ C không ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp 2.305m² cho bà H năm 2017 thì bà H không thể sang tên chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nông nghiệp 2.305m² để rồi sau đó bà H đã chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp 2.305m² cho người khác đứng tên và sử dụng đất cho đến nay. Do đó, tài sản diện tích đất nông nghiệp 2.305m² đã chấm dứt quyền tài sản của cụ K2 và cụ C vào năm 2017, nên diện tích đất nông nghiệp 2.305m² không còn là di sản thừa kế trong vụ án này, cấp sơ thẩm không chấp nhận việc ông K yêu cầu bà K1 trả số tiền 300.000.000 đồng và số tiền 117.000.000 đồng để khấu trừ vào di sản thừa kế là bà K1 được hưởng là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông K kháng cáo yêu cầu khấu trừ 300.000.000 đồng tiền bán đất trả nợ cho bà K1 300.000.000 đồng số tiền 117.000.000 đồng vào số tiền 814.830.975 đồng bà K1 được chia thừa kế, không chấp nhận việc ông K yêu cầu trả lãi số tiền 268.417.000 đồng là có căn cứ, ông K kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, nên không có căn cứ chấp nhận.
Từ phân tích, nhận định tại điểm [2.1], [2.2], [2.3] phần trên Tòa phúc thẩm tuyên xử, không chấp nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên bản án sơ thẩm như Kiểm sát viên đề nghị là đúng pháp luật.
[3]
Nội dung kháng cáo của ông K không được chấp nhận, nên ông K phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[4]
Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Phúc xử:
- - Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Viễn Duy K.
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 312/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ Điều 52, Điều 134, Điều 135, Điều 136, Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 616, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ khoản 7 Điều
27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Viễn Duy K về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ K2 và cụ C theo quy định pháp luật, cụ thể:
- Ông Lê Viễn Duy K được nhận toàn bộ di sản là diện tích đất 80m², thửa số 343, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03479 QSDÐ/Ad, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 02/8/2004 cho ông Lê Viễn K2, bà Đoàn Thị C đứng tên và 01 căn nhà cấp 3, gắn liền diện tích đất, số tầng 03, tổng diện tích xây dựng là 165,6m². Kết cấu: Khung sàn lầu BTCT + gỗ, nền, vách gạch, mái tole. Xây dựng năm 2005.
- Ông Lê Viễn Duy K có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Lê Tú Như K1 số tiền 814.830.975 đồng.
- Ông Lê Viễn Duy K được quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký cấp lại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với phần diện tích đất 80m², thửa số 343, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03479 QSDÐ/Ad, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 02/8/2004 cho ông Lê Viễn K2, bà Đoàn Thị C đứng tên và 01 căn nhà cấp 3, gắn liền diện tích đất, số tầng 03, tổng diện tích xây dựng là 165,6m². Kết cấu: Khung sàn lầu BTCT + gỗ, nền, vách gạch, mái tole. Xây dựng năm 2005.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Tú Như K1 hoàn trả cho ông Lê Viễn Duy K số tiền 117.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Viễn Duy K về việc đòi bà Lê Tú Như K1 trả số tiền lãi 268.417.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Viễn Duy K về việc đòi bà Lê Tú Như K1 trả 300.000.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Bà Lê Tú Như K1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Lê Viễn Duy K số tiền 6.150.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Viễn Duy K phải chịu 63.180.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào 21.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002318 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Lê Viễn Duy K phải nộp thêm 42.180.000 đồng.
- Bà Lê Tú Như K1 phải chịu 42.294.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Viễn Duy K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng phí do ông K nộp theo biên lai số 0000669 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (nên ông K không phải nộp án phí phúc thẩm).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
Bản án số 69/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia thừa kế, đòi tài sản
- Số bản án: 69/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế, đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế, đòi tài sản
