|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/DS-PT
Ngày: 20-02-2025.
V/v tranh chấp đòi tài sản là
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Thanh Giang;
Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Bà Nguyễn Thị Bé Thi-Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 648/2024/TLPT-DS, ngày 12 tháng 11 năm 2024, về việc: “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 226/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 751/2024/QĐPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1940; địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Ngô Thị C, sinh năm 1950; địa chỉ: khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Nguyễn Thị Sơn T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Đ: chị Phạm Thị Thúy A, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; theo hợp đồng ủy quyền ngày 20-01-2025; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phạm Thị Kim D-Chi nhánh Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Chị Lê Thị N, sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị N: chị Phạm Thị Thúy A, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; theo hợp đồng ủy quyền ngày 20-01-2025; có mặt.
- Bà Ngô Thị C, sinh năm 1950; địa chỉ: khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bà Võ Thị N1, sinh năm 1954; có mặt.
- Chị Ngô Thị Thùy T2, sinh năm 1976; có đơn xin xét xử vắng mặt.
-
Anh Ngô Thanh T3, sinh năm 1980; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Ngô Gel . Ngo Thi C1 (Ngô Thị T6), sinh năm 1943; quốc tịch: Đức; cư trú: số C, Marienplazt, 51145 KOLN, Cộng hòa Liên bang Đ. Tạm trú: khu phố Thanh Bình A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Chị Đào Thị N2, sinh năm 1970; địa chỉ: xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Đào Thị V, sinh năm 1965; địa chỉ: phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Đào Thị M, sinh năm 1965; địa chỉ: khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Anh Đào Minh T4, sinh năm 1977; địa chỉ: khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người kháng cáo: Anh Ngô Văn Đ là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Ngô Văn T Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Ngô Thị C trình bày:
Hai phần đất tranh chấp diện tích 1.125m², thuộc thửa số 212 và diện tích 60,5m², thuộc thửa số 197, cùng thuộc tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc của cha mẹ ông T là cụ Ngô Văn T5 (đã chết) và cụ Nguyễn Thị C2 (đã chết) tạo lập. Cha mẹ ông T tạo lập được 02 ha đất ruộng. Sau khi cha mẹ chết, anh ruột ông T là Ngô Văn P (cha ông Đ) đứng ra phân chia đất. Trong đó, ông T được chia 02 đám ruộng. Hiện nay là diện tích 3.964,3 m², trong đó gồm các thửa: 212, 197, 54, 59, 205 cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G. Thời điểm chia đất, do ông T đi bộ đội ở xa. Ông T bị thương rất nặng (Thương binh) nên không canh tác được. Do đó, ông P và bà H mượn đất của ông T để canh tác. Cụ thể:
- Ông Ngô Văn P canh tác thửa 212 và thửa 197 (tổng diện tích 1.185,5m²). Khi ông P chết thì con ông P là Ngô Văn Đ tiếp tục canh tác.
- Bà Ngô Thị H canh tác thửa 54, 59 và thửa 205. Khi bà H chết thì con bà H là Đào Minh T4 và Đào Thị M tiếp tục canh tác. Hiện tại, Đào Minh T4 và Đào Thị M đã đồng ý trả đất cho ông T. Những anh chị em khác đã đăng ký đất được chia. Riêng ông T và bà Ngô Thị T6 chưa đăng ký.
Nay ông T6 khởi kiện yêu cầu buộc ông Ngô Văn Đ trả lại cho ông T6 phần đất diện tích 1.185,5m² gồm thửa số 212, diện tích 1.125m² và thửa số 197, diện tích 60,5m² cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Trước đây, ông T6 khởi kiện tranh chấp về thừa kế thì Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định hết thời hiệu khởi kiện và không phán quyết về việc ai là chủ sử dụng phần đất hiện tại.
* Bị đơn anh Ngô Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến, không có ý kiến trình bày. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế trước đây, anh Đ có lời trình bày: Nguồn gốc các phần đất tranh chấp là của ông bà nội của anh là cụ Ngô Văn T5 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C2 (đã chết). Cụ T5, cụ C2 chết không để lại di chúc, sau khi ông bà nội của anh chết, thì cha của anh là ông Ngô Văn P đứng ra chia đất cho các anh em, trong đó chia cho
ông T6 hai phần thuộc thửa 54, 205, còn ông T6 cho ai quản lý, sử dụng thì anh không biết. Riêng hai phần đất thuộc hai thửa 212, 197 cha của anh không có chia cho ông T6 mà ông P trực tiếp quản lý, sử dụng (nuôi cá), sau khi cha của anh chết thì anh trực tiếp quản lý, sử dụng hai phần đất này.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Chị Lê Thị N: Chị là vợ của anh Đ, do chị là dâu trong gia đình nên không biết rõ nguồn gốc, chị thống nhất theo lời trình bày của chồng chị là anh Đ.
- Bà Võ Thị N1, chị Ngô Thị Thùy T2, anh Ngô Thanh T3, bà Ngô bày Thị T6, chị Đào Thị N2, chị Đào Thị V, chị Đào Thị M, anh Đào Minh T4 trình: thống nhất theo lời trình bày của bà C, yêu cầu anh Đ, chị N phải có trách nhiệm trả lại cho ông T6 hai phần đất diện tích 1.125m², thuộc thửa số 212 và diện tích 60,5m², thuộc thửa số 197, cùng thuộc tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 226/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 166, 203 của Luật đất đai 2013; Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn T đối với anh Ngô Văn Đ về việc “Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
1.1. Buộc anh Ngô Văn Đ, chị Lê Thị N có trách nhiệm trả cho ông Ngô Văn T 02 phần đất, cụ thể như sau:
- Phần đất diện tích 1.125 m² thuộc thửa 212, tờ bản đồ 10, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận:
Đông giáp thửa 205 dài 18,91 m;
Tây giáp thửa 211 dài 9,60 m + giáp thửa 189 dài 8,39 m;
Nam thửa 192 dài 24,85 m + thửa 197 dài 14,62 m + giáp thửa 54 dài 19,94m;
Bắc giáp đường nhựa bờ kênh dài 59,09 m.
- Phần đất diện tích 60,5 m² thuộc thửa 197, tờ bản đồ 10, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận:
Đông giáp thửa 212;
Tây giáp thửa 192 dài 8,85m;
Nam giáp thửa 54 dài 11,47 m + giáp đường đất dài 1,95 m;
Bắc giáp thửa 212 dài 14,62 m.
Ngoài ra bản án còn quyết định chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07 tháng 10 năm 2024, bị đơn anh Ngô Văn Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, theo hướng không chấp nhận toàn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Ngô Văn Đ là chị Phạm Thị Thúy A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của anh Đ và bổ sung kháng cáo đề nghị công nhận quyền sử dụng đối với 02 phần đất tranh chấp cho gia đình anh Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn- Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Sơn T1 trình bày luận cứ bảo vệ:
Ông Ngô Văn T là thương binh hiện đang triều trị tại Trại Điều dưỡng L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do đó, khi được ông P (là anh cả) đại diện đứng ra phân chia đất cho các anh chị em thì ông T không có mặt, sau này các anh, chị em thông báo lại cho ông T biết. Vì đang điều trị bệnh lâu dài nên ông T đã để cho ông P sử dụng các phần đất này; ông T chưa kê khai, đăng ký; còn tất cả các phần đất khác của các anh chị em đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ông P chết thì anh Đ chuyển tiếp sử dụng. Nay ông T có nhu cầu sử dụng đất nhưng anh Đ không giao lại, nên ông T mới khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét chấp nhận yêu cầu của ông T là hoàn toàn có căn cứ.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Đ; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn- Luật sư Phạm Thị Kim D trình bày luận cứ bảo vệ:
Năm 2020 khi ông T khởi kiện vụ án chia thừa kế thì Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, vì đã hết thời hiệu. Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao cũng đã đình chỉ, vì hết thời hiệu. Mặc dù bản án không công nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, nhưng căn cứ vào Điều 623 Bộ luật Dân sự thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này. Di sản tại thời điểm đó do anh Đ đang quản lý, sử dụng; nên đương nhiên anh Đ là người được quyền sử dụng đối với những phần đất tranh chấp nêu trên.
Ông T khởi kiện đòi lại tài sản là không có căn cứ; vì ông Đ là người quản lý, sử dụng đất từ năm 1985 đến nay; hàng năm ông T về dự đám giỗ cha mẹ đều không có ý kiến gì đối với các phần đất này.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án như bà C, bà T, bà N1, chị T1, anh T3, chị M, chị V, anh T4, đều là những người có cùng quyền lợi với ông T, nên họ trình bày theo ý kiến ông T. Do đó, các lời trình bày của những người này không phải là chứng cứ, chứng minh. Việc anh T4, chị M tự nguyện trả đất cho ông T chỉ là cái cớ để ông T khởi kiện đòi đất anh Đ
Ngoài ra, cha của anh Đ là ông P có rất nhiều đất nên không có lý do gì phải mượn đất của ông T. Cũng không có chứng cứ nào chứng minh phần đất này được giao cho ông T, bởi vì từ năm 1980 đến nay ông T cũng không kê khai, đăng ký.
Từ khi quản lý, sử dụng đất anh Đ đã nâng cấp, cải tạo đất; đã đổ hơn 100 m³ đất mới bằng phẳng như hiện nay.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh Đ; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Giao cho anh Đ các phần đất đang tranh chấp. Trường hợp Tòa án không chấp nhận việc giao đất cho anh Đ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính 01 phần công sức cải tạo, nâng cấp mặt bằng đất và 01 phần công sức gìn giữ đất của ông Đ.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Ngô Văn Đ. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa bản án sơ thẩm theo hướng xem xét trích một phần công sức, chi phí cải tạo đất cho bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về tư cách tham gia tố tụng của đương sự: Nguyên đơn ông Ngô Văn T khởi kiện tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất đối với bị đơn anh Ngô Văn Đ. Hiện nay người đang quản lý sử dụng đất tranh chấp có anh Đ và chị N (là vợ anh Đ). Do đó, chỉ có chị N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Toà án đưa những người con, cháu của cụ T5, cụ C2 bao gồm: bà C, bà T, bà N1, chị T1, anh T3, chị M, chị V, anh T4 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa chính xác; vì quyền lợi, nghĩa vụ của họ không có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Họ chỉ là những người làm chứng, biết sự việc đối với vụ án.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 10 năm 2024, bị đơn anh Ngô Văn Đ có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của anh Đ trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn đơn anh Ngô Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Hai phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 1.125m² thuộc thửa 212 và diện tích 60,5m² thuộc thửa 197, cùng tờ bản đồ số 10; tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Trên đất có ao nuôi cá, hiện tại anh Đ đang quản lý, sử dụng.
[3.2] Theo Công văn số 1979/VPĐKĐĐ-CNGD của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – chi nhánh G (bút lục 181) thể hiện: thửa đất số 212 và thửa 197 tờ bản đồ số 10, diện tích: 1.185,5 m² (LUC: 60,5m² + NTS: 1.125,0m²), tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, hiện nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân nào.
[3.3] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; thể hiện:
Sinh thời cụ T5, cụ C2 trong thời kỳ hôn nhân đã tạo lập nhiều tài sản là quyền sử dụng đất; khi còn sống 02 cụ đã chia cho các con đối với phần đất gò; còn phần đất ruộng diện tích hơn 02 ha chưa chia, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Sau khi 02 cụ chết, ông Ngô Văn P là anh cả đã đứng ra
phân chia đất ruộng cho các anh chị em, bao gồm: Ông P, ông C3, bà H, bà C, bà T và ông T. Sau khi được chia đất Ông P, ông C3, bà H, bà C đều đi đăng ký, kê khai và được cấp GCNQSDĐ. Riêng ông T và bà T cũng được chia phần nhưng do bà T ở nước ngoài, còn ông T đi kháng chiến bị thương nặng đang điều trị nên chưa nhận đất và chưa làm thủ tục kê khai, đăng ký.
Tất cả những người thừa kế của cụ T5, cụ C2 (trừ vợ và các con ông P) gồm: bà C, bà T, các con bà H (anh T4, chị M, chị V); vợ và các con ông C3 (bà N1, chị T1, anh T3) đều xác nhận ông T được chia các phần đất đang tranh chấp với anh Đ và 01 phần đất do các con bà H sử dụng, nhưng các con bà H (chị M, chị V, anh T4) đã giao trả lại đất cho ông T.
Trên thực tế, phần đất được chia cho ông T do ông T đi kháng chiến, bị thương chưa nhận đất, nên ông P đã quản lý, sử dụng và sau khi ông P chết thì anh Đ tiếp tục quản lý sử dụng. Những phần đất đã được chia cho những người khác đã được cấp GCNQSDĐ; còn phần đất đang tranh chấp thì chưa được cấp GCNQSDĐ và cũng chưa có ai kê khai, đăng ký. Anh Đ là người nhận chuyển tiếp sử dụng từ ông P cũng không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.
[3.4] Anh Đ cho rằng phần đất tranh chấp là của cha anh (ông P) được thừa hưởng và sau khi ông P chết thì anh tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất này. Tuy nhiên, anh Đ không có căn cứ chứng minh về nguồn gốc đất do ông P để lại và cũng không có chứng cứ nào xác định ông P đã cho anh Đ phần đất trên.
[3.5] Nên có cơ sở xác định phần đất tranh chấp là tài sản của ông T đã được anh chị em thoả thuận phân chia từ phần tài sản của cha mẹ chết để lại. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Buộc anh Đ, chị N có trách nhiệm trả cho ông Ngô Văn T các phần đất tranh chấp nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật và phù hợp với thực tế khách quan.
[4] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, anh Đ có yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét thẩm định lại tài sản tranh chấp, vì trên đất tranh chấp có nhà ở, vật kiến trúc và cây trái. Đồng thời cho rằng: từ khi quản lý, sử dụng đất anh Đ đã cải tạo đất, đổ hơn 100 xe đất (100m³) trị giá hơn 250.000.000 đồng để nâng một phần bằng hiện trạng đất cao ráo như hiện trạng.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10-01-2025; thể hiện:
Trên đất tranh chấp gồm có: 01 căn chòi không còn giá trị sử dụng; 01 chuồng heo xây tô không còn sử dụng; 04 cây dừa khoảng 30 năm tuổi; 03 cây dừa khoảng 03 năm tuổi (không có trái); 01 nhà tạm nền xi măng, lợp tôn, có 02 vách tôn; 01 nhà mát có 04 cột gỗ, mái tôn, nền gạch tàu; 01 giếng khoan, 01 mô tưa; 01 ao nuôi cá (không xác định được số lượng, loại cá) và 21 chậu cây kiểng nhỏ.
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự thống nhất xác định giá trị cây trồng trên đất (07 cây dừa, gồm 04 cây dừa lớn và 03 cây dừa nhỏ) trị giá 1.500.000 đồng; các tài sản còn lại không tranh chấp. Do đó, khi giao trả đất cho ông T, ông T có trách nhiệm thanh toán giá trị cây trái trên đất cho anh Đ là 1.500.000 đồng. Ông T được quyền sở hữu, sử dụng các cây dừa trên đất.
Các tài sản khác: Nhà tạm, nhà mát anh Đ cất sau khi xét xử sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét thanh toán giá trị. Anh Đ, chị N có trách nhiệm tháo dỡ, di dời nhà tạm, nhà mát, tài sản, vật dụng cá nhân và một số chậu cây kiểng để giao trả đất cho ông T. Do đây chỉ là nhà tạm khi anh Đ đến ao nuôi cá không phải nơi cư trú của anh Đ, nên không đặt ra giải quyết việc lưu cư trên đất.
Anh Đ, chị N có trách nhiệm thu hoạch cá đang nuôi trong ao để giao trả đất cho ông T.
[6] Tại phiên toà, bà C là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thừa nhận anh Đ có đổ đất nâng một phần đất phía bên ngoài, nhưng không đồng ý 100 xe (100m³) đất như anh Đ trình bày; chỉ có thể một, hai chục xe đất và đồng ý thanh toán cho anh Đ giá trị 30 xe (30m³) đất; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
[7] Đối với ý kiến trình bày của anh Đ về việc có đổ hơn 100m³ đất để nâng mặt bằng hiện trạng đất; tuy nhiên, chỉ có lời khai của ông Tô Văn T7 (là người đổ đất) thì cũng không đủ cơ sở vững chắc để xác định.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trên thực tế khi sử dụng đất, nguyên đơn cũng thừa nhận anh Đ có đổ đất nâng cấp mặt bằng để làm nhà tạm và nhà mát. Do đó, anh Đ cũng có công sức cải tạo, nâng giá trị đất phần ngoài diện tích đất (phần trong vẫn là ao dùng để nuôi cá). Do đó, cần trích một phần giá trị tính công sức và chi phí cải tạo đất cho anh Đ là 20% giá trị quyền sử dụng đất.
Giá trị quyền sử dụng đất được thẩm định giá tổng cộng là 948.400.000 đồng x 20% = 189.680.000 (một trăm tám mươi chín triệu sáu trăm tám mươi nghìn) đồng.
Không xem xét công sức gìn giữ đất theo yêu cầu của bị đơn; bởi khi sử dụng đất anh Đ cũng đã canh tác, nuôi cá trên ao, tăng thu nhập.
[8] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Văn Đ; sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định nêu trên.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Căn cứ Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận một phần, nên anh Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Văn Đ
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 226/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 166, Điều 203 của Luật đất đai 2013; Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn T đối với anh Ngô Văn Đ, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
1.1. Buộc anh Ngô Văn Đ, chị Lê Thị N có trách nhiệm trả cho ông Ngô Văn T 02 phần đất, cụ thể như sau:
- Phần đất diện tích 1.125 m² thuộc thửa 212, tờ bản đồ 10, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận:
Đông giáp thửa 205 dài 18,91 m;
Tây giáp thửa 211 dài 9,60 m + giáp thửa 189 dài 8,39 m;
Nam thửa 192 dài 24,85 m + thửa 197 dài 14,62 m + giáp thửa 54 dài 19,94m;
Bắc giáp đường nhựa bờ kênh dài 59,09 m.
- Phần đất diện tích 60,5 m² thuộc thửa 197, tờ bản đồ 10, tọa lạc tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận:
Đông giáp thửa 212;
Tây giáp thửa 192 dài 8,85m;
Nam giáp thửa 54 dài 11,47 m + giáp đường đất dài 1,95 m;
Bắc giáp thửa 212 dài 14,62 m.
2. Ông Ngô Văn T có trách nhiệm thanh toán chi phí và công sức cải tạo đất cho anh Đ, chị N số tiền 189.680.000 đồng và thanh toán giá trị 07 cây dừa không có trái cho anh Đ là 1.500.000 đồng. Tổng cộng ông T có trách nhiệm thanh toán cho anh Đ, chị N số tiền 191.180.000 (một trăm chín mươi mốt triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Buộc anh Ngô Văn Đ, chị Lê Thị N có trách nhiệm tháo dỡ, di dời, các tài sản bao gồm: 01 nhà tạm nền xi măng, lợp tôn, có 02 vách tôn; 01 nhà mát có 04 cột gỗ, mái tôn, nền gạch tàu; 01 chuồng heo, 01 căn chòi (không còn giá trị sử dụng); 21 chậu cây kiểng; các tài sản cá nhân và thu hoạch cá đang nuôi dưới ao để giao trả quyền sử dụng đất cho ông T.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Ông Ngô Văn T được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
4.2. Anh Ngô Văn Đ, chị Lê Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Anh Ngô Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí anh Đ đã nộp theo Biên lai thu số: 0014509, ngày 14-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Anh Đ đã nộp xong án phí phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
Bản án số 69/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 69/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
